Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200

Giữa buổi trưa mùa hè, mặt trời đang đứng bóng, tỏa cái sức nóng như muốn thiêu đốt mọi thứ cỏ cây. Lân đang hì hục đẩy chiếc xe ba gác chất đầy gạch đá len vào con hẻm nhỏ có đông người qua lại. Cái con hẻm mà mưa lớn thì nước dâng lên gần tới đầu gối, trời nắng như thế nầy thì bụi lại bay mù mịt một khi có chiếc xích lô máy chạy ngang qua.

Nhà của Lân ở tận cuối con đường đất nầy, cái nhà mà ai muốn tìm đến thì không hề khó. Nói như vậy thôi, chứ có ai muốn tìm tới đâu mà khó với dễ, giả như có hỏi thăm thì sẽ được chỉ dẫn:

- À, cái nhà của thằng Lân đấy hả, đi hết cái con hẻm ngoằn nghèo nầy, cuối đường thì sẽ thấy cái mái tôn sét rẹt, bốn vách ván xiêu vẹo với cái cánh cửa làm bằng miếng cát tông.. thì đó chính là cái nhà của nó, tìm dễ như trở bàn tay!

Những người sống trong cái con hẻm nầy đều không lạ gì “thằng Lân” con ông giáo Kỳ. Ba Lân là thầy dạy mẫu giáo cho nên khá quen thuộc với những gia đình có con nhỏ cũng như mấy đứa trẻ trong cái xóm nghèo tới tuổi đi học. Nhiều người cũng còn biết tới thằng Lân học giỏi nhất xóm, lễ phép và còn biết thương mẹ, lo em. Lân là tấm gương sáng mà các bậc cha mẹ, thường đem ra nhắc nhở và muốn cho con mình noi theo.

Cha Lân đã chết vì căn bệnh lao phổi ở thời kỳ cuối, lúc mà Lân còn đang ở trong độ tuổi chưa biết gì, để phải lo trước cái chết của cha mình. Lân đã khóc khi thấy mẹ mình đang khóc. Lân thương ba mà cũng thương mẹ cho nên đã khóc không ngừng. Mẹ Lân ôm chặc con Lan, em của Lân, vật vả khóc than bên cạnh cái quan tài nằm bất động. Lân thấy con Lan cũng khóc, nhưng Lân đoán rằng, chắc là nó đang khát sữa chứ mới chừng một tuổi rưỡi thì biết gì mà khóc thương cha!?

Cái chết của ông Kỳ đã đẩy gia đình Lân vốn khó khăn trở thành nghèo túng hơn nữa. Mẹ Lân đã phải một mình tần tào nuôi con, những mong chúng được khôn lớn và học hành tới nơi tới chốn, hy vọng được đổi đời. Cảnh nghèo đó, đã không làm cho Lân nhụt chí mà ngược lại đã giúp cho Lân trưởng thành sớm hơn, biết về trách nhiệm của một người con cũng như người anh trong gia đình, so mấy đứa bạn cùng trang lứa.

Thời gian trôi đi khá nhanh, Lân đã bước vào cái độ tuổi biết yêu từ hồi nào mà Lân không nhận rõ. Lân mơ hồ biết được khi gặp người con gái có tên gọi là Phụng, nhà ở đầu con hẻm.

Gia đình Phụng đã dọn về ở cái xóm nầy cũng được chừng một năm. Phụng là con gái duy nhất của ôngThịnh, dĩ nhiên cũng thuộc diện nhà nghèo. Vì có ai giàu mà chịu ở trong cái khu nhà ổ chuột nầy chứ. Nghĩ thế, cho nên Lân cảm nhận một sự gần gũi với Phụng, ngay từ những ngày đầu vừa mới thấy nhau.

Cha con ông Thịnh lưu lạc từ miền Trung vào Nam kiếm sống. Nghe kể, người mẹ đã chết chỉ vài ngày sau khi sinh Phụng, do chứng làm băng không cứu kịp. Cái biến cố ấy đã khiến cho ông Thịnh trở thành một “gà trống nuôi con”. Chính vì vậy, có lắm người khen ông là một người cha tốt.

Nhờ Phụng có “nét” nên ông Thịnh luôn kỳ vọng vào một cơ hội đổi đời đến được với ông và đứa con gái, đứa con gái mà ông luôn đặt hết tình thương vào đó.

Phụng học cùng trường nhưng kém hơn Lân một lớp. Ngôi trường cách nhà cũng khá xa nhưng mấy lúc sau nầy, từ khi có Phụng, Lân lại cảm thấy dường như nó ngắn lại rất nhiều. Những buổi sáng, những buổi chiều, trước giờ đến lớp, sau giờ tan trường là khoảng thời gian mà Lân cảm nhận lòng mình có một cái gì khan khác hơn xưa.

Bữa nào cũng vậy, bước ra khỏi nhà, đến cái đoạn đường mà có thể thấy được căn nhà ở đầu con hẻm, thì bước chân của Lân luôn được đổi thay, lúc chậm lúc nhanh.

Bước chân của Lân luôn chậm lại khi mắt đang dõi chờ bóng hình của Phụng xuất hiện. Và rồi, vội bước nhanh như để kịp bắt cái hình bóng đó, nhưng chẳng bao giờ Lân dám tiến lại gần hay là vượt qua khỏi Phụng.

Trên đường về từ trường cũng vậy, Lân cứ lẻo đẻo theo sau. Bóng hình Phụng dường như đã chiếm trọn trái tim của Lân, mà không biết là tại sao!?

Cứ như thế, và chỉ có thế đã làm cho cái đầu của Lân bận rộn ngày một nhiều hơn. Cho tới một hôm.. bước chân của Phụng bổng chậm lại dần. Chậm đến nỗi bắt gặp được Lân, cho dù lúc ấy bước chân của Lân cũng đang chậm dần, thật chậm. Cũng có khi, Lân đã cố tình dừng lại, một chút, để cố giữ cái khoảng cách giữa hai người.

Thình lình, Phụng quay người lại, bắt gặp ánh mắt bối rối của Lân, đang chăm chú nhìn xuống mặt đường như sợ bị vấp ngã.

- Nghe nói Anh Lân học giỏi nhất xóm, lại còn giỏi toán nhất trường nữa. Phụng muốn nhờ anh chỉ hộ mấy bài toán khó, nhưng lại sợ làm phiền đến anh!?

Tim Lân như muốn nhảy ra khỏi cái lồng ngực rắn chắc của mình, nuốt vội ngụm nước bọt, như để trấn an mình. Nhưng giọng nói vẫn còn lắp bắp:

- Phiền gì đâu, nếu muốn thì Phụng đưa cho Lân giải hộ. Sợ khó quá thì Lân không giúp được mà thôi!

Lân và Phụng đã bắt đầu làm quen như thế.  Không lâu sau, họ đã đến với nhau bằng một tình yêu trong trắng, không tính toán, không lọc lừa gian dối. Vì cả hai đều không có gì để thu hút sự tính toán, lọc lừa.như người đời thường có.

* * *

Lân nhấc cao cái yên xe ba gác, đổ trọn cái đống gạch vụn vừa mới chở về, lấp đầy cái chỗ trũng ở phía trước sân nhà. Bà Liên, mẹ Lân đang dọn rửa cái chuồng heo đằng sau, nghe có tiếng lào xào thì vội chạy ra xem thử. Thấy Lân mồ hôi mồ kê nhễ nhãi, bà nói lớn:

- Trời ơi, nắng gắt như vầy mà mầy đem mấy thứ nầy về đây làm chi. Bộ mầy muốn cho cả nhà hít thêm bụi nữa hả!?

- Gặp lúc người ta đang đập bỏ nhà cũ, con mới xin được cái mớ xà bần nầy. Kệ đi, ráng chịu một chút thì mùa mưa tới sân nhà mình bớt bị ngập bùn, má ơi!

- Ừ, thì lỡ rồi. Thôi, vô coi con Lan nó nấu cơm xong chưa, chờ tao tắm xong mấy con heo thì mình ăn trưa. Nhớ rót nước sôi trong bình thủy ra mà uống, mầy cứ ỷ sức, uống nước vò coi chừng bị bệnh sốt rét vàng da, nghe mầy!.

- Bệnh sốt rét được truyền do muổi cắn, chứ đâu phải vì uống nước vò mà má dặn như vậy.

- Cái thằng nầy lạ thật, tao nuôi dưỡng mầy mười mấy năm rồi mà không biết sao, lại còn cãi nữa?

Lân không dám trả lời với mẹ, chỉ tủm tỉm cười một mình rồi lẩm bẩm:

- Má làm như nuôi được con lớn là nói cái gì cũng trúng cả!?

Con Lan đang bưng cái nồi mắm kho bay mùi thơm lựng, đặt trên cái phản gỗ. Ngước lên, Lan thấy anh mình vẫn còn đang mỉm cười, nó không hiểu gì cả. Thấy mặt Lan buồn buồn mà lại ít nói hơn mọi khi, Lân do dự:

- Bị má la hay sao mà cái mặt của mầy bí xị vậy Lan, chắc là nồi cơm bị khét rồi chớ gì. Không sao đâu, cứ nói với má là mầy đang mơ mộng cho nên đã quên dụi lửa. Má sẽ thông cảm và anh mầy đây cũng sẵn sàng tha thứ, có gì đâu mà buồn cho nó mau thành bà già như vậy, hử!

Không nghe con Lan nói gì mà mắt nó thì cứ nhìn chằm chằm vào mặt mình, Lân cảm nhận có một điều gì không vui với nó. Chuyện gì mà nó lại có thái độ lạ lùng như vậy!?

Chưa kịp hỏi lý do thì Lan đã thắc mắc:

- Anh Lân, có gì mà vui thế?

- Sao laị hỏi vậy?

- Thì thấy anh cứ tủm tỉm cười hoài, tự nãy giờ.

- Chẳng có gì vui, nhưng tao cũng chẳng có gì để buồn như mầy đang có. Chuyện gì nói thử nghe coi, sao mà cái mặt của mầy nó thê lương dữ vậy. Coi chừng cái cằm của mầy nó sắp đụng cái ngực thì hết đẹp đấy, cô nương à.

Hơi lạ, không thấy con Lan phản ứng gì với câu nói đùa của mình cả. Nghĩ rằng, chắc nó có chuyện gì buồn thật rồi. Tính ăn cơm xong thì sẽ hỏi nó cho ra lẽ.

Lan bước lại gần hơn, hỏi nhỏ:

-   Anh nghe tin gì chưa?

-   Tin gì là tin gì, mầy nói úp úp mở mờ làm sao tao hiểu được!?

-   Hôm nay anh có gặp chị Phụng không?

-   Không, sao mầy hỏi thế. Phụng bị bịnh hả?

Thấy con Lan do dự, dường như nó cố dấu hai dòng nước mắt đang chảy dài trên đôi gò má của nó. Lân càng nóng lòng hơn nữa

- Chuyện gì xảy ra cho Phụng, hở Lan?

- Chị Phụng đi lấy chồng, tuần tới là đám cưới của chị.

- Mầy trêu tao đấy hả, Lan?

- Không, em nói thật đó. Sáng nay chị Phụng có gặp em, chị nói vậy mà.

- Tao qua hỏi Phụng ngay bây giờ, mầy mà đùa dai với tao thì coi chừng nhé!

- Đừng, anh đừng gặp chị Phụng nữa. Chị dặn em nói với anh như vậy, chị Phụng chỉ xin anh có một điều duy nhất, là đừng tìm gặp chị. Chị Phụng không muốn gặp anh nữa đâu.

- Mầy có biết là Phụng lấy ai không?

- Nghe chị nói, ông ta là một thương gia giàu có trong Chợ Lớn. Hơn chị cả chục năm tuổi!

- Thế à!

Mắt Lân cay cay với những giọt nước đong đầytrong đó. Lân không biết đó là những giọt mồ hôi rơi xuống từ vầng trán của mình hay là những giọt nước mắt chảy ra từ tuyến lệ? Vị mặn của mồ hôi hay là những giọt nước mắt thì cũng chẳng có gì khác nhau. Lân thầm thì trong miệng:

- Phải chăng cuộc đời bao giờ cũng được trả giá bằng mồ hôi và nước mắt của chính mình!?

Sợ mẹ biết mình buồn rồi đâm lo, Lân cố nuốt vội cho xong mấy chén cơm, rồi leo lên võng nằm, vờ như say ngủ. Nhưng làm sao mà Lân có thể ngủ cho được trong giây phút nầy đây.

Những cử chỉ, thái độ và những câu nói mập mờ khó hiểu trước kia của Phụng cứ lần lượt lướt nhanh trong trí của Lân. Đã nhiều lần, Lân không dám tin vào những phân tích của mình, nhưng mối nghi ngờ cũng đã nhen nhúm, suốt trong mấy tháng qua. Chuyện gì xảy ra hôm nay chỉ là để xác minh cho những phân tích ấy của mình, không hề sai!?

Lân tự trách là tại sao đã không dám nói thẳng vào mặt của Phụng về những suy đoán của mình.Tại sao lại không chịu nói toẹt ra với Phụng:

- Tôi đã biết rõ cái tâm lòng lọc lừa, bắt cá hai tay của cô rồi, xin đừng tiếp tục lừa dối tôi nữa!

Nhưng lúc ấy, Lân lại không dám nói ra cái suy nghĩ đó vì còn cố bám víu vào tình yêu của Phụng, dù rất mong manh. Lân tự hỏi, phải chăng đó chỉ là một thứ tình yêu mù quáng!?

- Tiền bạc, danh vọng đã làm đổi thay, hay là trong con người của Phụng đã mang sẵn cái mầm phản bội, tính toán, lọc lừa!.

- Tại sao Phụng không chịu gặp mình để nói lời chia tay, chắc là không đủ can đảm để chườn cái bản mặt xảo trá, với mình!?

- Tại sao Phụng cứ mãi thở dài lúc mà mình cố vẽ ra một hướng đi cho tương lai. Phụng đã không tin vào tương lai của mình phải không, coi thường mình đến như vậy sao?

Biết bao nhiêu câu hỏi khác mà Lân đã tự đặt ra rồi cũng tự mình tìm lấy những câu trả lời. Phiên tòa trong tâm Lân luôn được thành lập, để xét xử Phụng từng giây, từng phút, mỗi ngày. Cũng được bào chữa, rồi phản biện nhưng cuối cùng thì bản án nặng nề nhất bao giờ cũng được dành cho Phụng. Bởi vì phán quyết của quan tòa chỉ dựa trên những dữ liệu được cung cấp từ Lân. Thế mà Lân mãi tin, đó là những phiên tòa công bằng mới lạ chứ!?

Cơn tức giận đang tràn về chiếm trọn tâm lòng của Lân. Cơn giận đó đang lấn át cái nỗi buồn bị người yêu bỏ rơi, khiến cho lòng yêu thương ngày nào đã chuyển thành thù hận. Rồi lòng tự ái lại nổi lên tựa như con sóng thần, theo sau một cơn địa chấn cực mạnh, phá hủy tất cả những công trình đã được xây dựng từ lâu!?
Lân nói lớn với mình:

- Để coi, rồi ai sẽ hơn ai cho biết, đồ phản bội!

* * *

Lan cứ sợ anh Lân của mình bị thất tình mà bỏ học nửa chừng, thế nhưng việc đó lại không hề xảy ra. Thấy hơi lạ, nhưng Lan cũng rất mừng khi thấy anh mình đã không bị tình yêu vật ngã. Lan lại vẩn vơ:

- Chắc là anh Lân không yêu chị Phụng đủ nhiều, nên dễ quên đấy chăng, tội nghiêp!?

Cuối năm đó, Lân thi đậu Tú Tài 2 và quyết định gia nhập trường Võ Bị Đà Lạt. Mẹ Lân có ý cản nhưng Lân đã cố gắng thuyết phục cho được.
Cái buổi tối, trước hôm Lân khăn gói lên đường nhập ngũ, Lân về nhà với cái dáng xiêu xiêu nhưng vẫn còn tỉnh táo. Tiếng huýt sáo của Lân vọng vào từ ngoài sân đã khiến cho Lan và Phụng lặng thinh.

Lân bước hẳn vào nhà và chợt thấy Phụng, đang ngồi bên Lan, gần bếp lửa, trông vẻ mặt rất vui. Ngà hơi men nhưng cũng chưa đến nỗi say, nhưng khi thấy Phụng, Lân làm như say khướt. Hai mắt vờ nhắm khít, lè nhè hỏi Lan:

- Mẹ đâu rồi, mầy đang làm gì ở đó?

- Dạ, em đang nấu xôi vò, mẹ vừa mới chạy qua nhà cô Hai xin mấy miếng lá chuối để ngày mai gói xôi cho anh mang theo.

- Nghèo như nhà mình mà cũng còn có đủ xôi cho anh mang theo, sao Lan!?

Lân tưởng câu nói xéo của mình chắc chắn sẽ làm cho Phụng áy náy. Thế mà Lân lại thấy Lan và Phụng đưa mắt nhìn nhau cùng cười khúc khích. Vẻ mặt rạng rỡ của Phụng lúc ấy đã khiến cho nhịp tim của Lân bổng dưng đập mạnh và nhanh hơn lúc trước, có lẽ là do cơn giận.
Bước ra sau nhà tìm nước rửa mặt, Lân lẩm bẩm:

- Đồ khốn, cứ vui với cái giàu đó đi. Thằng Lân nầy cũng không thua ai đâu, chờ mà coi!?

Có lẽ giận lắm Lân mới thốt ra những lời như thế.Thật tình thì Lân cũng xúc động nhiều lắm, khi mắt mình vừa chạm vào cái khuôn mặt của Phụng. Nhưng lúc ấy, Lân lại muốn nhìn thấy cái khuôn mặt của Phụng gợi lên chút gì nuối tiếc. Lân nghĩ, nếu thế, thì Lân sẽ sẵn sàng tha thứ. Nhưng chuyện ấy đã không xảy ra.

Bước lại vào nhà thì gặp mẹ vừa về:

- Con Lan đâu rồi má!

- Nó tiễn con Phụng ra đầu hẻm để đón xích lô về nhà. Mầy coi đi ngủ sớm để sáng mai còn dậy kịp giờ. Coi chừng ngủ quên trễ chuyến xe đấy.

- Ngữ đó mà còn chơi thân làm chi vậy?

- Mấy lẩm bẩm cái gì mà tao không nghe rõ, Lân?

- Hổng có gì đâu, con đi ngủ đây, buồn ngủ dít mắt luôn!

Tháng ngày cứ trôi nhanh, Lân đã tốt nghiệp và được chuyển qua binh chủng không quân.  Lân được chọn theo khóa học lái trực thăng tại Mỹ, Lân hảnh diện lắm. Được cho về phép thăm nhà trước khi lên đường qua một đất nước xa lạ nhưng giàu mạnh nhất thế giới. Trở về trong bộ quân phục có gắn bông mai trông thật hùng dũng, có lúc Lân tự hỏi mình:

- Nếu gặp lại, Phụng có chút nào nuối tiếc không nhỉ?

Mẹ Lân đã ra tận đầu hẻm để đón. Bà ôm choàng lấy Lân rồi khóc, khóc cho một niềm vui!

- Tổ cha mầy, mầy to quá rồi tao đâu còn ôm được như hồi xưa kia nữa!

- Con Lan có ở nhà không Má?

- Nó đang nấu nồi bún bò để đãi mầy đấy.

- Nó học nghề ở đâu mà biết nấu bún bò vậy?

Không nghe mẹ trả lời câu hỏi của mình, nhưng Lân cũng không cần thắc mắc điều đó mà làm gì. Lân bước nhanh hơn, như để tránh nhìn thấy cái căn nhà đầu hẻm, mặc dù nó đã đổi chủ từ lâu.

- Tổ cha mầy, hồi nhỏ mầy đi lửng thửng thì tao phải đứng chờ. Bây giờ tao già rồi chạy theo không theo kịp thì mầy cứ bỏ tao mà đi!?

Lân quay lại, nói với mẹ:

- Con quên mất, má à. Nóng lòng về gặp con Lan cho nên vội bước nhanh. Má cứ đi từ từ, con chờ má đây này.

- Tao nói giỡn đó, mầy đừng chờ tao làm chi. Mà tao còn phải ghé qua cái quán mua mấy chai bia cho mầy, con Lan đã dặn mà chút xíu nữa là tao quên rồi!

Nói xong, bà Liên quay ngược lại ra đường lớn. Lân đi nhanh hơn. Vừa tói sân trước thì đã ngửi cái mùi bún bò bay ra bát ngát.
Lân gọi lớn:

- Lan ơi, mầy nấu bún bò Huế kiểu gì mà tao ngửi giống cái mùi bún bò Đà Nẵng dữ vậy, hở Lan?

Vừa bước vào bên trong nhà, Lân thấy hai cái lưng quay ra, và nghe mấy tiếng cười rúc rich. Lân đoán biết hai cái lưng đó là của ai rồi, nên nín thinh. Lan quay lại:

- Anh Lân, giới thiệu với anh đây là Hoa, bạn em, giỏi nấu ăn số một. Hôm nay nó nấu bún bò mừng anh mà anh nói như vậy, nghe sao được!?

Lân ngượng quá, ngượng không phải là mấy lời nói đùa đó, mà là Lân cứ ngỡ Hoa là Phụng. Không biết tại sao cái hình ảnh của Phụng lại cứ lảng vản trong trí , dù mình đã cố loại bỏ nó ra!?.

Lấy lại bình tĩnh, Lân cười lớn:

- Xin lỗi Hoa, anh cứ tưởng là con Lan nó nấu bún bò nên ghẹo nó đấy. Hoa đừng giận nhé!

- Gặp mấy ông sĩ quan không quân như anh Lân, thì có ai mà thèm hờn thèm giận cho phí công. Mấy ổng mang giận hờn của người ta thả bay theo mây theo  gió là xong ngay, phải không anh Lân?

- Anh chưa lái máy bay lần nào nên chưa biết có đúng vậy hay không?

Bữa ăn tối cũng kết thúc nhanh chóng vì Lân muốn được đi nghỉ sớm, lấy cớ đường xa khá mệt.

Hoa chào Lân ra về nhưng vẻ mặt không được vui lắm vì thấy Lân không mấy để ý đến mình. Lan cũng cảm nhận như vậy nên nói nhỏ với Hoa:

- Chắc anh Lân đang mệt, nên không được vui. Hôm sau nhớ qua chơi.

- Ừ, để Hoa coi thử đã, sợ bận!

Tiễn Hoa ra đường lớn rồi quay về, thấy Lân đang ngồi tư lự phía trước hiên nhà. Như để dò xét, Lan hỏi:

- Sao anh đòi đi nghỉ sớm mà lại còn ngồi đây!?

- Anh muốn nhìn ánh trăng một chút, hôm nay là 16 âm lịch, trăng tròn và đẹp quá!

- Anh làm như chỉ có nhà mình mới thấy được trăng vậy, vừa về tới là đã muốn nhìn trăng rồi. Em biết anh Lân đang muốn nhìn gì khác chứ không phải là muốn nhìn trăng đâu!?

Lân không muốn Lan đọc được ý mình nên vội hỏi;

- Con bạn tên Hoa của mầy cũng xinh đấy chứ, có bạn trai chưa?

- Chưa, nó chỉ thích mấy ông lái máy bay thôi. Anh Lân chưa biết lái máy bay cho nên nó cũng đâu có thèm để ý tới.

- Cũng chả sao, đời chinh chiến như tao thì cũng chẳng dám nghĩ đến chuyện quen ai, tội nghiệp con gái người ta. Mầy đừng dại mà chịu đèn mấy người lính như tao đó nhé!

Những ngày còn lại, Lân cứ đi miết cùng bạn bè, nhậu say rồi về nhà muộn. Lan đoán biết lý do nhưng không dám nói ra. Lan biết anh Lân vẫn còn nhớ đến chị Phụng, chắc là nhớ để thù chứ không còn yêu!?

Có lần Lân tự vấn:

- Cái gì đó mà mình cố để quên thì cũng có nghĩa là mình mãi còn nhớ đến!?

Thời gian theo học tại Mỹ rồi cũng qua nhanh, Lân trở về nước với niềm vui đoàn tụ, và vui nhất là đã mua được một căn nhà cho mẹ và đúa em, bằng số tiền dành dụm trong mấy năm vừa qua.

Giã từ xóm nghèo, cái nơi đã cho Lân rất nhiều kỷ niệm, vui có mà buồn cũng có. Căn nhà đầu tiên và căn nhà cuối cùng nằm trên con đường hẻm nầy vẫn còn ghi sâu vào trí nhớ của Lân.

Rồi như khám phá được cái định lý toán học mà tình yêu của mình đã bị chi phối, Lân chua chát:

- Hai cực diểm trên cùng một con đường thì làm sao mà gặp nhau cho được!?

Lân ra trình diện đơn vị sau vài tuần nghỉ phép, từ giã mẹ và em, Lân thấy lòng mình không còn vui như trước. Cường độ chiến tranh mỗi lúc một khốc liệt, và những phi vụ hiểm nguy đã khiến cho Lân bớt nghĩ đến Phụng hơn.

* * *

Ngày miền Nam sụp đổ, kéo theo một chuỗi dài sụp đổ của chính cuộc đời Lân. Lân trình diện học tập và được chuyển qua nhiều trại, lắm khi Lân nghĩ rằng mình không thể chịu đựng nổi và khó có thể vượt qua.

Lân không quên được cái câu chuyện đã xảy ra vào buổi chiều 30 tết, nửa năm sau khi Lân được đưa đến một trại cải tạo tại miền Bắc. Hôm ấy, Lân được phân công trong nhóm hậu cần, chuẩn bị bữa ăn cuối năm. Con bò được cho phép mang ra giết thịt mừng tết, con bò nầy là thành quả của phong trào thi đua chăn nuôi, được phát động rầm rộ trong những trại tù cải tạo. Cái tin được cho ăn thịt bò trong mấy ngày Tết được lan nhanh và được xem như là một tin tức quan trọng đối với người tù. Gần đây tất cả mọi loài côn trùng đều biến mất, tại cái vùng đất vốn dĩ đã khắc nghiệt nầy.

Lân và một người bạn tù được phân công xẻ thịt, chuẩn bị mang ra con suối gần đó mà rửa. Nhìn cái đống thịt tươi rói mà cả năm chưa bao giờ thấy chứ đừng nói là được nếm. Nước miếng cứ mãi trào ra khiến Lân phải nuốt ừng ực, liên hồi!

Bổng nghe thằng bạn tù ghé miệng sát tai mình, nói nhỏ:

- Thịt ngon quá mà mình đâu có dám xén bớt, phải không!!?

- Đừng có ngu mà làm vậy, ban quản giáo đã nhiều lần khuyến cáo. Tham gian là một cái tội bị bắn bỏ. Bác Hồ đã dạy cán bộ là không được lấy cắp của nhân dân cho dù một cái kim sợi chỉ. Cán bộ mà còn được dạy như vậy huống chi là mình!?

Người bạn tù nói, nửa đùa nửa thật:

- Ừ, nhưng mình đóng góp nhiều công sức, như hôm nay, thì cũng nên cho hưởng một đặc quyền đăc lợi nào chứ!?

Lân chưa kịp nói gì thì một cán bộ quản giáo đã tới gần:

- Các cậu đang trao đổi gì đó, muốn được hưởng đặc quyền đặc lợi phải không?

Mặt hai đứa tù không còn chút máu, hai tay cứ mãi run lên bần bật không ngừng, Lân nhẹ giọng:

- Thưa cán bộ, tụi em lỡ lời mong cán bộ bỏ qua cho chúng em nhờ!

- Không, tôi hiểu các cậu. Cách Mạng luôn giải quyết “có tình có lý” đấy mà!

Nói xong, cán bộ quản giáo chỉ vào bộ phận mang thai của con bò, rồi nói:

- Cái nầy không ai để ý đâu, may cho các cậu, nó không phải là con bò đực đấy!

Hai đứa bạn tù nhìn nhau như còn nghi ngờ vào tai mình. Cán bộ quản giáo quay lưng đi, nhắc lại:

- Tôi cho phép các cậu được hưởng cái đặc lợi đó, các cậu “không biết” để nhận thì thôi. Nhớ là Cách Mạng luôn giả quyết có tình có lý đó nhé, tùy các cậu.

Hai thằng tù vui mừng như đã chết mà lại được cứu sống. Lân mài con dao vào phiến đá lần nữa, cẩn thận cắt đều chia thành hai miếng, rồi đưa cho người bạn tù phân nửa. Như để có sự công bằng, Lân chìa hai miếng thịt ra và nói:

- Tôi cắt thì bạn chọn, công bằng nhé!?

Mỗi người giữ lấy cái phần “đặc lợi” của riêng mình rồi ì ạch khiêng cái giỏ cần xế thịt bò ra con suối mà rửa. Loay hoay một hồi, Lân vô ý đánh rơi cái phần đặc lợi của mình xuống dòng suối đang hồi chảy xiết. Lân cố đuổi theo nhưng đành để vuột, vì nó cứ trôi len vào các hốc đá, cuối cùng thì bị cuốn nhanh theo con nước, đang đến cái đoạn dốc thẳng đứng.

Đêm hôm đó, Lân trằn trọc mãi không sao ngủ được, không phải vì tiếc cho cái miếng thịt vừa mất chiều nay nhưng Lân mãi vẩn vơ:

- Phải chăng khi con người đứng trước những khó khăn thì cần phải làm gì đó, dù trái lòng, để được sống còn!?

Rồi Lân lai thắc mắc:

- Tại sao mọi thứ trong tầm tay của mình, dù lớn hay nhỏ, đều bị vuột mất!?

Hồi tưởng lại những gì xảy ra trong quá khứ và hiện tại, Lân nhận ra rằng đời mình đã có quá nhiều bất hạnh.Bắt đầu tuổi thơ trong cái xóm nghèo thiếu vắng tình cha, tình yêu đầu đời thì lại chắp cánh bay xa và bây giờ thì đời mình coi như mất hết. Lân không còn một chút mơ hồ gì nữa để phải chấp nhận rằng mình đã thua cuộc, trên mọi mặt trận!?

Mấy tháng sau, cả trại cải tạo được cho phép thăm nuôi và nhận quà tiếp tế. Lan ra thăm với mấy gói đồ ăn và một ít thuốc men cùng đồ ấm.

- Má có khỏe không Lan, sao má không theo ra thăm anh?

- Má vẫn khỏe, nhưng đường xa nên má sợ tuổi già sức yếu không đi nổi.

- Mầy tiếp tế gì mà nhiều vậy, tiền đâu mà mua lắm thế!?

- Đâu có gì nhiều mà anh nói vậy. Đây là lon mắm ruốt kho sả ớt với thịt ba chỉ, còn đây là gói thịt chà bông, hai gói nầy là thịt heo muối và cá kho khô. Má dặn anh để dành mà ăn từ từ.

Hai anh em mừng mừng tủi tủi, tâm sự một lúc thì đã hết giờ thăm nuôi. Lân cầm tay em siết nhẹ rồi giả biệt với những dòng nước mắt chảy dài trên hai khuôn mặt đượm lắm nét buồn. Dường như Lân muốn hỏi Lan một câu gì đó nhưng không còn kịp nữa.

Lân không lạ gì món chà bông cũng như món thịt heo muối và cá kho khô của mẹ mình. Nhưng cái món mắm ruốt kho sả ớt với thịt ba chỉ thì sao lạ quá, Lân lẩm bẩm:

- Chắc là con Lan mới học lóm của ai chứ gì!?

Sở dĩ Lân ngạc nhiên vì đây là món ăn nấu theo kiểu miền Trung. Lân còn nhớ có lần Phụng đã cho ăn món nầy với chén cơm nguội, buổi chiều mà ông Thịnh ra phố chưa về. Nhớ lại câu nói đùa của Phụng lúc đó:

- Cho anh Lân ăn món nầy, chắc anh sẽ nhớ Phụng suốt đời!

Món mắm ruốt kho đã gợi nhắc cho Lân nhớ đến Phụng quay quắt, Lân cố gạt bỏ cái hình ảnh ấy ra khỏi trí mình, nắm chặt bàn tay khô rốc rồi đấm thật mạnh vào cột gỗ gần bên.

Vị mặn ở đầu lưỡi đã báo cho Lân biết là mình đang khóc, không biết là tại sao. Phải chăng đó là những giọt nước mắt của kẻ thua cuộc, trên chiến trường và luôn cả tình trường!?

Lan ra thăm Lân vài lần nữa rồi bặt tin nhưng cuộc sống trong trại cải tạo không có đủ thì giờ suy nghĩ viễn vông. Thời gian qua nhanh, một hôm Lân nhận được lệnh “tạm tha”, cùng lượt với vài người bạn tù khác. Lân mừng lắm, mong về sớm để gặp lại người mẹ và đứa em gái.

Gõ cánh cửa mấy lần rồi hồi hộp đứng chờ. Lân chuẩn bị dang rộng đôi cánh tay mình để ôm chặc người mẹ già vào lòng. Cửa mở, Lan bước ra thấy Lân thì la lớn:

- Trời ơi, anh Lân. Anh về hồi nào mà sao không chịu báo trước cho em biết?

- Lệnh tạm tha vừa ban ra là lo đón xe về ngay, làm sao báo cho kịp mà báo?

Lan đứng né qua một bên cho Lân bước hẳn vào nhà, tính hỏi Lan là mẹ đâu thì chợt nhìn thấy trên bàn thờ có hình mẹ mình ở đó. Lân bổng khóc lớn, Lan cũng khóc theo.

- Má chết hồi nào, tại sao vậy Lan? Sao không chịu báo tin cho anh biết?

- Chuyện dài lắm, anh mới về còn mệt. Anh đi tắm đi, em chạy ra chợ mua ít đồ ăn về sửa soạn bữa cơm tối, anh em mình nói chuyện sau, còn nhiều thì giờ mà!?

Tắm xong, Lân bước tới đứng trước bàn thờ cha mẹ, đưa cao nén hương vừa mới đốt rồi lâm râm khấn nguyện. Lân nhìn tấm hình của mẹ mình kỹ hơn, như cố tìm một chút nét vui trên cái khuôn mặt đó, nhưng lại không thấy. Lân buông một tiếng thở dài!

Hơn cả tiếng đồng hồ mà không thấy Lan về, Lân hơi nóng ruột:

- Mua gì mà đi lâu thế, hay là đã có chuyện chi không may?

Nhìn quanh, Lân càng thấy rõ hoàn cảnh nghèo túng đã và đang hiện diện trong cái căn nhà nầy từ lâu. Lân cảm thấy tội nghiệp cho đứa em gái, không có được nhiều ngày vui, chẳng khác gì mình!?

Lan mang thức ăn về, thấy vẻ mặt của nó vui hơn lúc nãy. Lân định hỏi nhưng thôi, thấy nó vui là mừng rồi, thắc mắc mà làm chi. Ăn cơm xong, thấy Lân hơi mệt, chắc vì đường xa nên Lan hối anh mình đi ngủ sớm

- Anh Lân đi ngủ đi, sáng mai em đưa anh vào thăm mộ má.

- Ừ, mai mình đi sớm.

Lân chở Lan bằng chiếc xe đạp cũ kỹ, lúc chạy ngang qua chợ, Lan kêu dừng lại để mua bông. Lan ôm hai bó bông, một trắng và một tím từ chợ đi ra, Lân thấy hơi lạ tính hỏi nhưng lại thôi.

Đứng trước mộ mẹ, hai anh em không nói gì với nhau cả. Có lẽ cả hai đang thầm thì với mẹ những điều thầm kín của riêng mình. Chưa kịp hỏi thì đã thấy Lan ôm cái bó bông màu tím tiến lại một phần mộ cách đó không xa. Lân tò mò, vừa bước tới chỗ Lan vừa lẩm bẩm:

- Cái con Lan nầy thay đổi tính tình nhiều quá, không giống như hồi nhỏ. Hồi đó chuyện gì cũng nói với anh mình!?

Lan đứng lặng yên, Lân tới sát gần Lan hơn, mắt lướt vội qua tấm mộ bia. Lân đưa tay lên dụi mắt mấy lần, như không tin vào đôi mắt mình khi đọc thấy cái tên quen thuộc Nguyễn Thị Hồng Phụng. Lân tính hỏi rất nhiều nhưng đám mây đen bổng dưng ùn ùn kéo đến cho nên Lan hối về. Cả hai không nói gì thêm, mỗi người đang theo đuổi những suy nghĩ riêng mình.

Về đến nhà, Lan nhắc anh ra phường trình diện theo lệnh. Lan nói:

- Anh trình diện xong thì về nhà ngay. Có việc rất quan trọng em muốn bàn với anh. Đừng đi đâu khác nghe anh Lân.

- Ừ, tao trình diện xong là về ngay, mầy đừng lo. Chuyện gì mà mày không chịu nói bây giờ đi?

- Sợ không kịp giờ, em cũng phải tới nhà chị bạn một chút rồi về gặp anh ngay.

Lan đi một chặp rồi về nhà, không thấy Lân đâu, có vẻ bồn chồn lắm.Lan lấy ra một cái bọc nylon, nhét vội mấy thứ gì vào đó và gói bên ngoài bằng một tờ nhựt trình. Lan bước tới đốt ba cây nhang, đứng trước bàn thờ cha mẹ lâm râm cầu  nguyện. Vừa lúc đó thì Lân về, Lan lôi ra gói xôi mua sẵn đưa cho Lân một nửa, nửa còn lại Lan đưa lên miệng vừa ăn vừa nói:

- Ăn xong, anh theo em đến gặp một vị ân nhân.

- Vị ân nhân nào vậy, đã giúp gì mình?

- Đừng hỏi gì nữa cả, anh cứ theo em rồi sẽ biết.

Lan chỉ đường cho Lân chạy vào hướng Chợ Lớn, đến gặp một người phụ nữ có dáng vẻ quê mùa, trạc tuổi Lân. Lan bước vào trong với người phụ nữ đó. Lân ngồi chờ ở phòng bên ngoài, gợn chút lo lắng vì không biết họ đang tính chuyện chi!?

Không lâu sau, hai người bước ra, Lan ngồi xuống cạnh anh mình, nói rất nhỏ:

- Em đã sắp xếp cho anh chuyến vượt biên. May quá, anh về thật đúng lúc, có lẽ được phù hộ. Chiều nay anh đi theo chị này về Cần Thơ, giả như là hai người tình về quê thăm nhà vậy. Mọi việc em đã lo xong, chỗ rất đáng tin tưởng, anh yên tâm.

- Tại sao em không đi cùng với anh?

- Vì mình không đủ tiền anh à. Anh cầm gói nầy, chỉ được mở ra xem khi đã bước lên tàu, nhớ nhé. Thời gian không cho phép chúng ta nói chuyện lâu hơn nữa!

Lan chào Lân và người phụ nữ ra về, cố dấu đôi dòng lệ trong mắt mình. Lân xúc động lắm tính gọi Lan để hỏi thêm gì đó nhưng người phụ nữ đã nắm tay Lân kéo vào phòng trong, dặn dò đôi điều trước khi rời khỏi nhà.

* * *

Suốt lộ trình, Lân cứ thắc mắc mãi về cái gói giấy mà Lan đã đưa, lại còn căn dặn chỉ được mở ra xem sau khi lên tàu:

- Cái gì mà lại quan trọng và bí mật như vậy?

Đôi lúc, Lân muốn mở ra xem nhưng không dám trái lời dặn của em mình.Vả lại, bao nhiêu nỗi lo lắng trên đường đi đã khiến cho Lân quên mất, mãi đến lúc bước lên được chiếc thuyền lớn vượt sóng ra khơi, Lân mới nhớ lại. Lân nóng lòng muốn mở ra xem ngay nhưng bầu trời thì tối ôm không một chút ánh sáng, ngoại trừ những vì sao lấp lánh thật xa xăm!

Nhắm mắt được một lúc, tĩnh dậy thì mặt trời ló dạng. Mở nhanh gói giấy, tim Lân đập mạnh khi nhận ra những dòng chữ rất quen thuộc của Lan và Phụng. Tay Lân run rẩy, nắm chặt như sợ gió biển cuốn chúng bay theo.

Bức thứ thứ 1:

Anh Lân

Nếu đúng như lời dặn thì em rất mừng khi anh đang đọc thư nầy.Vì chắc rằng cơ hội đổi đời đang đợi chờ anh, điều mà chị Phụng và em luôn mong ước.

Xin kèm theo đây bức thư của chị Phụng, được viết trong những giây phút cuối đời, lúc mà cơn đau do căn bệnh quái ác “ung thư tủy sống” đang hành hạ không ngừng.

Nhưng cơn đau đó đã không đủ mạnh để ngăn trở những sắp xếp, chuẩn bị chuyến đi cho anh. Mặc dù lúc ấy anh vẫn còn ở trong trại cải tạo nhưng chị Phụng vẫn luôn tin tưởng, sẽ có một ngày về, như vài người chị biết.

May mắn thay, anh đã về rất đúng lúc để bắt gặp một trong những chuyến đi mà chị Phụng đã gởi gấm cũng như trang trải mọi chi phí.

Chúc anh thượng lộ bình an.

Em Lan

Bức thư thứ 2:

Anh Lân,

Chắc chắn rằng khi anh đọc những dòng chữ nầy thì chúng ta sẽ không còn gặp lại. Em cứ phân vân mãi là có nên viết cho anh hay không, viết để nói những gì và để làm gì!?

Nhưng trước cái chết gần kề, em muốn được nói với anh vài lời, chỉ thế thôi!

Cám ơn anh, đã cho em những ngày vui trong tình yêu đầu đời. Và cũng cám ơn anh, đã mạnh mẽ để vượt qua tất cả.

Em biết anh trách em rất nhiều và cũng thù ghét em không ít. Anh có quyền như thế, em không buồn và cũng không hề hối hận cho quyết định mà em đã chọn.

Em rất may mắn có được một người chồng rất tốt, đã cứu cho ba em qua khỏi cơn bạo bệnh và cũng đã cho em rất nhiều tình thương cùng sự cảm thông.

Nhưng sau cùng thì em nghiệm ra rằng, cuộc sống nầy, tất cả đều là vô thường, phải vậy không anh!?

- Tình yêu đầu đời đã phải chết tức tưởi để cho ba em được sống, nhưng ba em có sống mãi được đâu!?

- Đứa con hai tháng tuổi cũng đã bỏ đi, phải chăng nó đã đoán biết người mẹ sẽ không sống được lâu, sợ bơ vơ!?

- Người chồng đáng kính cũng đã chết theo khối tài sản đã bị tịch thu trong đợt đánh tư sản sau năm 75.

- Và cuộc sống của em, giờ đây, cũng sắp bị kết thúc bởi một căn bệnh quái ác.

Mọi thứ mà mình tìm đến, có được và cố giữ lấy, cũng không tồn tại vĩnh hằng. Tình yêu của chúng ta không thoát khỏi định luật vô thường ấy, phải không anh!?

Cơn đau đã không cho phép em viết tiếp. Chúc anh có một cơ hội đổi đời và đây là ước nguyện cũng như lời chúc cuối cùng xin được gởi đến anh. Tất cả những gì em đã làm là để mong trả dứt cái món nợ, mà em đã vay: NỢ TÌNH!?

Vĩnh biệt anh
Nguyễn Thị Hồng Phụng

Lân ngồi bất động thật lâu, không ai biết là anh ta đang nghĩ đến chuyện gì!?



Viết xong ngày 28-09-11

Đinh Tấn Khương
  
Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất