Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200

Tôi ở xa quê, cố gắng thu xếp lắm, vài năm mới về thăm nhà được một lần. Kể cũng buồn, nhưng vì hoàn cảnh cả thôi! Gia đình tôi quê gốc ở đây đã bao đời. Vài mươi năm trước đây, tôi là một anh giáo viên cấp hai trường xã, mẹ và vợ là xã viên hợp tác. Ban đầu, hai vợ chồng cùng sống với bà mẹ già, gia đình chẳng dư giả gì, nhưng thu nhập cũng đủ ăn. Khi sinh đứa con gái đầu lòng, cuộc sống bắt đầu khó khăn. Mặc dù thế, năm năm sau vợ chồng tôi quyết tâm kiếm thêm đứa nữa. Đứa thứ hai ra đời, may là con trai để nối dõi tông đường. Vợ chồng tôi mừng húm! Tất nhiên sinh con trong hoàn cảnh lúc bấy giờ thì khổ rồi, nhưng khổ bao nhiêu vợ chồng tôi vẫn chịu được. Nhất là khi đứa cháu trai ra đời, mẹ tôi mặt cứ tươi hơn hớn! Vợ tôi cũng thế! Dù sao cô ấy cũng sinh đủ nếp tẻ, bản thân đã vui rồi, nhưng vui nhất là đã làm tròn nghĩa vụ với gia đình! Mấy năm sau, khó khăn chồng chất, vợ chồng tôi làm việc cật lực nhưng vẫn thiếu thốn trăm bề.Thiếu gì thì thiếu, chúng tôi vẫn cố gắng lo đủ cái ăn cho mẹ già, con trẻ. Có rách rưới một chút cũng không sao, vợ chồng bảo nhau cắn răng chịu đựng. Rồi mẹ tôi mất, hai đứa trẻ ngày càng lớn lên. Cái ăn, cái mặc, việc học hành...bao nhiêu thứ đòi hỏi phài chi nhiều hơn, nhưng thu nhập thì ngày càng teo tóp lại. Biết tính sao đây? Một người bạn trong Nam về thăm, thấy hoàn cảnh chúng tôi như vậy, khuyên nên đưa gia đình vào trong ấy sinh sống. Cơ sở ban đầu, vợ chồng anh ấy cố gắng giúp cho. Vợ chồng tôi bàn tính, suy nghĩ nát óc và thấy đó là lối thoát tốt nhất trong lúc khó khăn này. Và thế là sau khi mãn tang mẹ, tôi quyết định xin nghỉ dạy, gia đình dắt díu nhau đi Nam. Và sau vài năm phấn đấu, cuộc sống chúng tôi cũng tạm ổn. Kinh tế càng lúc càng khá hơn. Không giàu, nhưng đủ sống. Vả lại bây giờ con cái đã lớn, có gia đình riêng, chỉ còn hai vợ hồng già sống với nhau trong ngôi nhà rộng. Con cháu thì ở cách xa năm ba cây số, vài tuần mới về thăm một lần. Buồn tình, tôi lại muốn về quê. Ngôi nhà ở quê thì tôi đã bán, nhưng bà con anh em thì vẫn còn đó. Mấy lần về quê sau này, tôi nhận ra là quê hương mình ngày một thay đổi. Đường quê không còn lầy lội và nhà nhà hình như mới hơn, khá lên. Nhà ông anh tôi cũng vậy. Nhà cửa sửa sang lại, khang trang hơn nhiều. Mấy cháu tôi tuy không học hành được nhiều, nhưng đều phương trưởng, kinh tế vững vàng. Nói chung cuộc sống bây giờ khá giả, không vất vả như gia đình tôi ngày xưa. Nhiều năm trước, về quê tôi chẳng đi đâu nhiều, cũng chỉ quanh quẩn trong nhà ông anh và thăm chơi vài gia đình trong xóm. Mình đã phải tha phương cầu thực, mấy năm rồi cũng chưa khá gì, gặp gỡ nhiều cũng chẳng biết ăn nói sao đây. Ở quê tôi cũng có mấy anh Việt kiều xênh xang áo gấm về làng, còn tôi áo vải thô sơ kể gì! Lần này về thăm, ông anh tôi cũng mở đầu buổi trò chuyện bằng một câu hỏi quen thuộc:

- Lúc này chú làm ăn thế nào?

- Dạ, cũng chỉ nhì nhằng vậy thôi!

- Thế à? Bây giờ ở quê mình cũng sống được rồi. Có nhiều người khá giả ra phết!

- Dạ! Ai biết cách làm ăn thì cũng dễ giàu lắm!

Tôi hỏi thăm anh về một số người quen, biết họ bây giờ khá ra, tôi cũng mừng. Anh tôi trầm ngâm một chút, rồi như chợt nhớ ra, anh "À!" một tiếng, rồi hỏi:

- Chú đã đến thăm ông bạn hiệu trưởng trường chú năm xưa chưa? Bây giờ ông ấy làm việc trên huyện, nhưng gia đình ở thành phố, nghe nói giàu lắm!

Nghe anh nói, tôi nhớ ra là đã mấy lần về quê, nhưng tôi vẫn chưa đến thăm anh ấy. Ngày còn dạy học ở quê, tuy tôi là giáo viên, anh ấy là hiệu trưởng, nhưng chúng tôi khá thân với nhau, vẫn thường ngồi với nhau uống cốc trà, chén rượu, trò chuyện tâm tư. Đôi khi là những câu chuyện tầm phào về mùa màng, thời tiết. Có khi là chuyện nghề, chuyện trường lớp. Sâu hơn là những tâm sự về chuyện nhà cửa, chuyện cuộc sống khó khăn. Nói cho vui vậy thôi, chứ có giúp nhau giải quyết được gì đâu. Chuyện trường lớp thì phần ai nấy lo. Tôi luôn cố gắng làm việc, làm tốt nhiệm vụ được giao, không để phiền anh bạn hiệu trưởng. Còn chuyện nhà, ai cũng có cái khó riêng, phải tự giải quyết. Nói chung, chúng tôi cũng biết hoàn cảnh của nhau với ít nhiều chuyện riêng tư chưa phải là sâu kín lắm.

Nhà cửa của anh to thật. Một ngôi nhà lầu ba tầng toạ lạc trên con đường lớn, ở trung tâm thành phố. Khu phố này rất đẹp, nằm gần bãi biển, với nhiều đường phố mới mở, rộng thênh thang. Muốn làm chủ một căn hộ ở đây, phải là dân nhiều tiền hoặc là cán bộ có cỡ. Anh bạn tôi bây giờ cũng mới chỉ là phó chủ tịch huyện, nhưng chắc đã sớm nắm bắt thời cơ để đưa gia đình vào thành phố và đã nhanh chân kiếm được một lô đất ở khu phố mới này. Tìm nhà anh rất dễ, vì đó là một cửa hàng vải lớn của chị. Tôi đến thăm anh vào một buổi sáng chúa nhật, cửa hàng đang rất đông khách, nhưng chị cũng đã nhanh chóng nhận ra tôi, vồn vã đón chào và mời vào nhà trong, bảo người nhà lên lầu gọi anh xuống tiếp. Hôm đó dù tôi từ chối thế nào, anh chị cũng giữ tôi ở lại ăn cơm. Tôi nhìn anh chị sang trọng, béo tốt trong căn nhà lớn với những đồ đạc choáng lộn, đắt tiền như thế này, bỗng dưng tôi ngậm ngùi nhớ đến ngày xưa. Cái thời khó khăn ấy bỗng dưng hiện ra rõ mồn một , mặc dù bao người đã muốn chôn sâu vào ký ức, hoặc có khi nhắc tới cũng chỉ là một chút bi hài để cười cợt cho vui!

*

Cuộc sống của họ cho đến khi đứa con đầu lòng được ba tuổi, có lẽ là hạnh phúc. Họ cùng công tác tại một trường phổ thông cơ sở, chồng là hiệu phó, vợ là giáo viên. Nhà cửa cũng khang trang, rộng rãi, với tiện nghi đầy đủ. Cảnh sống của gia đình ấy có thể là niềm mơ ước của nhiều người. Bạn bè đến chơi chỉ tìm thấy nơi họ vẻ mặt tươi tắn, nụ cười hồn nhiên, chỉ nghe những câu chuyện huyên thiên lấy từ sách vở, đến cuộc đời đã qua và đang diễn ra của nhiều người, trong đó có họ.
Nhưng rồi những khó khăn của đời sống cứ đến, như những mũi gai nhọn châm chích vào da thịt. Đã bắt đầu có những tiếng thở dài, những lời than vãn, và những khuôn mặt thường xuyên cau có. Một hôm, cô vợ bàn với chồng:

- Anh này, mình phải làm gì đi chứ! Cứ thế này mãi thì chết thôi! Anh thấy không, mấy chị giáo viên trường mình mới ra buôn bán mà đã khá quá! Em nghe một chị bạn nói, mỗi ngày tệ lắm cũng kiếm được ba bốn trăm. Vốn chỉ hơn mươi nghìn chứ có bao nhiêu. Trường mình cũng có năm bảy người đi buôn rồi đấy. Em cũng lập một hàng đồ xổ nhé!

Anh chồng có vẻ trầm ngâm không đáp. Đúng là khó thật. Sống bằng tiền lương không thể nào đủ được. Mà nào họ có tiêu pha gì. Bữa cơm hàng ngày chỉ có nước mắm rau luộc, đĩa tôm cá nhỏ. Thịt thì hoạ hoằn mới có. Cứ thâm tiền nhà mãi. Nhưng mà...,biết làm sao bây giờ, bao nhiêu thứ phải chi tiêu. Cô vợ vẫn chờ đợi câu trả lời của chồng:

- Thế nào, anh nghĩ sao?

- À, nhưng biết làm gì bây giờ? Buôn bán thì không được. Mình là giáo viên, ai lại đi buôn. Vả lại, anh ở trong Ban Giám hiệu, em làm thế, anh em nói chết!

- Nói! Nói! Cứ sợ họ nói thì đói đến rã bụng. Tùy anh, cứ ngồi nhà mà ôm chức hiệu phó của anh!

Cô vợ vùng vằng đứng lên, đi vào buồng trong với những bước chân nặng nề, để anh một mình với nỗi bực bội riêng tư.

Vợ chồng họ có vẻ giận nhau. Mà họ giận nhau thật. Cô vợ không bàn với chồng về chuyện buôn bán kiếm thêm nữa, và đồng thời cũng không nói với chồng nửa câu, nếu không thật cần thiết. Anh chồng biết vợ giận mình, nhưng cũng không trao đổi gì thêm. Mỗi người im lặng làm phần việc của mình. Một bầu không khí nặng nề bao trùm gia đình họ.
Cô vợ vẫn đi dạy đều, nhưng đi chợ thì ít hơn. Chợ thị trấn họp vào buổi chiều, lại gần nhà, trước kia dù không mua gì nhiều, chiều nào cô ấy cũng đi, nhưng những ngày sau này thì bớt hẳn. Chất lượng các bữa ăn vốn đã tồi tệ, giờ giảm sút đến mức thấp nhất. Anh chồng vẫn chiều chiều chịu khó nấu cơm, đợi vợ đi chợ về, nhưng nhìn vào rổ chỉ thấy rau xanh, anh thất vọng lắm, đành lắc đầu nhè nhẹ. Anh lại có tật ghiền trà, ghiền thuốc. Từ trước, tuy không cần trà ngon nhưng mỗi ngày phải có ba ấm, và thuốc lá cô vợ mua sẵn mỗi tuần một lạng thuốc rê, kè theo giấy hút đầy đủ. Ăn uống kham khổ, anh cố gắng chịu được, nhưng đến khi hơn hai ngày không có ấm trà, điếu thuốc nào thì anh thấy thiếu thốn thế nào ấy, khó chịu vô cùng. Anh hỏi cô vợ gay gắt:

- Trà, thuốc hết cả rồi, sao cô không mua cho tôi?

Cô trả lời nhẹ nhàng:

- Không có tiền anh ạ!

- Tiền lương của tôi cô nhận hết, tôi không giữ một đồng. Trước đây vẫn thế, bây giờ cũng thế. Sao trước kia thì có – ăn uống khá hơn, trà thuốc đầy đủ. Bây giờ thì cô cho tôi ăn chẳng ra gì, trà thuốc cũng không có nốt. Cô tước đoạt của tôi vừa vừa đấy chứ!

- Sao anh không tính xem! Lương của anh và tôi hàng tháng bao nhiêu, như vậy trung bình mỗi ngày phải chi tiêu bao nhiêu cho vừa đủ? Không có khoản tiền trà thuốc của anh, cũng đã thiếu hụt lắm rồi. Từ trước cha mẹ tôi vẫn phải chi viện thêm đấy, nhưng nay thì không! Có đồng nào ông bà cho, tôi để dành bồi dưỡng cho con vì nó đáng được hưởng. Còn tôi với anh, sức dài vai rộng, không thể sống theo kiểu ăn xin thế đâu! Cái nhà này ai bỏ tiền ra mua, chiếc honda anh đang đi đấy, do đâu mà có? Anh tự hiểu lấy. Như thế đủ rồi, xin anh đừng đòi hỏi gì thêm mà xấu hổ lắm!

Nghe nói thế, anh giận dữ đứng lên:

- Cô bảo ai xấu hổ?

- Tôi nói tôi đấy! Ai mà dám nói chạm đến anh. Tôi xấu hổ vì đã có chồng, có con mà vẫn phải ăn xin cha mẹ!

Hình như đã lâu họ mới có dịp nói với nhau rất nhiều, nhưng sao mà gay gắt quá. Anh chồng vẫn là người nín nhịn trước tiên. Dù sao những điều cô ấy nói vẫn là sự thật. Một sự thật rất bình thường trong cuộc sống êm đẹp, nhưng rất nghiêm trọng những khi sóng gió. Mấy năm qua, không phải giữa họ không có những lần cãi nhau, nhưng chưa bao giờ anh thấy vợ mình dùng đến thứ lý lẽ cụ thể này. Bây giờ cô ấy đã nói ra, và anh dù rất muốn cũng không thể chối từ. Ừ mà đã đến nỗi nào đâu! Ngày cô ấy ra lấy chồng, cha mẹ đã cho mấy lượng vàng làm của hồi môn, trong khi anh đi cưới cô ấy không có bao nhiêu. Tuy nhiên đó là của chung hai đứa. Rồi nhà, rồi xe...thì cũng hai người ở, hai người đi. Dù sao anh cũng không có quyền chủ động sử dụng số tài sản đó. Tất cả thuộc về cô ấy, tiêu pha thế nào tuỳ cô ấy quyết định. Anh đã có lần nói với cô ấy về cách giải quyết khó khăn của đời sống hiện tại: bán bớt đi vài chỉ vàng, lấy tiền gửi vào quỹ tiết kiệm, có lãi mà chi tiêu dần, bù vào chỗ thiếu hụt, nhưng cô ấy không chịu vì ngại đồng tiền mất giá. Anh bàn chuyện nuôi heo, cô ấy lại sợ lỗ và khổ. Chỉ muốn đi buôn cho lời nhiều và đỡ cực hơn.

Lần này họ cảm thấy giận nhau ghê gớm, thậm chí tránh nhìn mặt nhau. Cuộc sống chung có vẻ ngột ngạt. Cô vợ thỉnh thoảng đi chợ, tuy thường chỉ mắm và dưa. Tạm thời anh không phải nhịn trà thuốc (Tức mình anh đã về nhà mẹ mình mượn mấy trăm đồng để dành mua trà thuốc và vài thứ lặt vặt khác). Giận chồng, cô vợ dành hết tình thương vào đứa con. Chú bé có quà bánh nhiều hơn, ăn uống đầy đủ hơn và tha hồ nũng nịu, vòi vĩnh đủ thứ. Trong nhà im ắng hẳn. Vợ chồng lùi lũi đi về, âm thầm làm việc, chỉ có tiếng cười nói bi bô của con trẻ vang lên đơn độc. Cô vợ vắng nhà nhiều hơn và người ta thấy cô bắt đầu xuất hiện khá thường xuyên ở một vài quán ăn quen thuộc.

Cô vợ đi đâu suốt ngày và khi trở về, một bọc hàng to tướng đèo sau xe đạp. Cô dắt xe vào nhà, lẳng lặng bê bọc hàng cất vào buồng, rồi đi đón con ở nhà trẻ về. Anh chồng ngồi ở bàn uống nước, không nói, không hỏi, trong lòng khá băn khoăn. Sau khi ăn tối xong, cô mở bọc hàng ra, sắp xếp phân loại các lớp quần áo đủ màu, đủ kiểu và mở sổ tay ghi ghi, chép chép. Cô bảo anh:

- Bắt đầu từ ngày mai, buổi sáng tôi phải đi chợ sớm. Anh chịu khó cho con ăn sáng, rồi đem gởi nhà trẻ, trước khi đi làm. Công việc buổi chiều tôi sẽ lo.

Anh ngồi im, cố thản nhiên không nói gì. Anh biết, có nói cũng chỉ thêm ầm nhà, mà chẳng ích gì. Cô ấy đã thực hiện ý định của mình, bất chấp sự phản đối của anh. Đành vậy! Anh hờ hững nhìn qua khói thuốc, đống quần áo đó và khuôn mặt vợ mình...tất cả xa lạ làm sao! Trong thoáng giây, hình ảnh dòng sông quê hương với chiếc cầu, bến đò và những con nước khi lên khi xuống...hiện ra trong đầu óc anh. Ngày trước, ở những nơi này, cô hiền dịu và xinh đẹp biết bao! Những phút giây êm đẹp đã qua rồi, qua rồi!

Công việc nhà thật tất bật. Buổi sáng cô vợ thức dậy rất sớm, súc miệng, rửa mặt xong là thay quần áo đi chợ ngay. Anh cũng không ngủ thêm được vì những tiếng động lịch kịch quanh mình. Anh lui cui mhóm lò đun nước, ngồi âm thầm với ấm trà sớm, suy nghĩ vẩn vơ. Cháu bé ngủ dậy, anh mua cho nó mấy đồng xôi, lau mặt mũi, chuẩn bị cho cháu đi nhà trẻ. Nhà thì bữa quét, bữa không. Anh có vẻ cam chịu một nếp sống xa lạ. Chỉ khi đến trường, anh mới lấy lại vẻ hoạt bát cố hữu. Tuy nhiên anh bắt đầu e ngại với mọi người – công tác vẫn tích cực đấy, nhưng ít nói, ít trao đổi, góp ý với anh em hơn. Người ta như nhìn thấy nơi anh một khuôn mặt mới, một vẻ người mới. Cô vợ thì trưa ở chợ về, ăn vội mấy bát cơm rồi đi dạy ngay. Cả buổi chiều, cô vừa dạy học, đi chợ mua thức ăn, vừa nấu cơm, đón con ở nhà trẻ về..., nhiều việc thế, cô vẫn làm xong rất gọn gàng và khéo léo. Cũng có cái tiện là trường ở gần nhà, chợ và nhà trẻ cũng chẳng mấy xa. Cô đi đi, về về như con thoi. Này nhé, đến lớp trễ chút ít cũng chẳng sao, giảng qua loa bài học hay đọc cho học sinh viết bài chính tả xong, cô cho học sinh nghỉ giải lao và chạy ngay ra chợ mua vội vàng mấy thứ. Chiều về, cô ghé luôn nhà trẻ đón con; đến nhà thay áo xong là lao vào nấu cơm, làm bếp. Cơm nước xong, thì giờ buổi tối có rộng rãi hơn.Cô soạn bài, giặt giũ, phơi phóng và chuẩn bị cho phiên chợ hôm sau. Anh chồng lo việc nhà, việc trường buổi sáng; cô vợ lo việc nhà, việc lớp buổi chiều. Công việc chiếm hết một ngày của cô từ sáng sớm đến gần khuya, nhưng anh chồng thì rảnh rang lắm. Buổi chiều anh có thể la cà nhà bạn, hay ra quán ngồi với anh em. Hình như anh ấy bắt đầu uống rượu, và những lúc như thế, khi bạn bè anh hỏi về chuyện gia đình, chuyện vợ con, anh nói thẳng: cuộc sống vợ chồng anh chỉ còn là một thứ cộng đồng trách nhiệm, nhưng được cái tình ít, tiền lại nhiều. Cô vợ bây giờ có vẻ chiều chồng hơn, ăn uống trông khá hẳn, quần là áo lượt xúng xính vào ra. Cái lợt lạt, xa lạ của những ngày đầu đã trở nên quen thuộc nồng ấm hẳn lên.

Dần dà, anh cảm thấy yên tâm với những đổi thay trong cuộc sống gia đình, do công sức của vợ mình tạo nên. Trong câu chuyện với bạn bè, anh bắt đầu nói về những khoản thu nhập và chi phí lớn lao của gia đình anh. Và để chia sẻ nỗi vất vả của vợ, anh cố gắng gánh vác công việc gia đình nhiều hơn. Nhũng lúc rảnh rang, anh chở vợ đi chợ và phụ giúp bán hàng. Những lần đầu có bỡ ngỡ, nhưng rồi cũng quen đi. Những người khách xa lạ đến mua hàng của vợ chồng anh ở chợ, sẽ không thể nào biết đó là cô giáo và ông hiệu phó. Cô vợ chào mời, anh chồng thách giá, họ chia nhau nụ cười thoả mãn khi được những món lời. Anh được cô vợ phân công đi nhận hàng, nhưng có lẽ việc bán hàng anh cũng chẳng thua kém gì cô.

Năm tháng đi qua, họ trở lại vui vẻ với nhau trong cuộc sống ấy. Nhìn chồng thay đổi theo mình, cô vợ hài lòng nhưng chưa bằng lòng hẳn. Đã có tiếng nói ra nói vào trong các cuộc họp ở cơ quan. Những lúc ấy anh thoáng buồn. Cô vợ thấy thế, bàn với anh làm đơn xin nghỉ chức hiệu phó. Anh lưỡng lự, nhưng rồi cũng đồng ý. "Giám hiệu mà làm gì , lao động tiến tiến mà làm chi! Mình chỉ cần đi dạy và buôn bán kiếm thêm thôi anh ạ! Anh nghỉ hiệu phó đi, mình làm gì khỏi ai nói tới". Anh đã làm theo lời cô ấy, như chấp nhận một thứ lý lẽ cụ thể mới.
Họ giàu hẳn ra, và cảm thấy sung sướng với những gì kiếm được bằng nổ lực buôn bán của mình. Và có lẽ anh sẽ đi mãi con đường ấy cùng với vợ, nếu không có một sự việc xảy ra.....

Hôm ấy ngày chủ nhật, anh thu xếp gởi con, và chở vợ đi phiên chợ xa sớm. Như thường lệ, vừa đến chợ, anh nhanh nhẹn giúp vợ bày hàng, rồi để cô ngồi đó với tô bún điểm tâm mà bà hàng vừa đưa tới. Anh lũng thững đi vào quán cà phê gần đó. Anh rít một hơi thuốc thơm loại đắt tiền, thoải mái choài chân ngồi nhìn những giọt cà phê đặc sánh đang rơi trong ly pha lê. Ngoài kia , những tia nắng đầu tiên đang về trên ngọn cây, một ít rơi vãi trên thềm trước mặt. Tiếng nói cười của hai ông bà khách mới bước vào. Những bước chân rộn rã của người đi chợ. Anh mỉm cười ngắm nhìn cuộc sống rộn rã đang diễn ra xung quanh. Khoảng mươi phút nữa đây, anh sẽ hòa lẫn vào cuộc sống ấy một cách tích cực, nhưng lúc này anh chỉ sống cho riêng anh, với niềm vui nhỏ được uống ly cà phê thơm đậm trong buổi sớm tươi đẹp này. Anh thong thả hút thuốc, nhấp từng ngụm cà phê và tận hưởng những hương vị ngọt ngào, thơm ngát đang trộn lẫn vào nhau. Anh định ngồi nán lại vài phút để uống nốt bình nước trà pha đậm vừa gọi thêm, nhưng bỗng có tiếng xôn xao, huyên náo khác thường ở phía chợ bên ngoài. Một đám đông đang bao phủ lều hàng, nơi vợ anh đang ngồi bán. Anh vội móc túi trả tiền và chạy nhanh về phía ấy. Vợ anh bị giựt đồ chăng? Chết rồi, thế này thì cô ấy sẽ nổi tam bành lên đây! Đến nơi, anh mới biết mình lầm, nhưng nếu đúng như thế có lẽ còn hơn!
Một anh công an đã dẫn giải tên rộm đến chỉ số quần áo mà hắn đã lấy cắp, và đem bán cho cô trong phiên chợ trước. Vì ham lợi, cô đã không từ chối khi có người mang gói quần áo đến bán vội cho cô với một giá rất rẻ. Tưởng là ở đâu xa, té ra nó đã bẻ khóa khuân của ở một gia đình cán bộ gần đây. Chủ nhà báo công an, và tên trộm sa lưới. Hắn đã khai ra cô hàng đồ xổ mua đồ của hắn, nên hôm nay mới rắc rối thế này!

Vợ chồng anh phải thu dọn đống quần áo lại, bỏ vào thùng mang về công an huyện. Cô bị giữ lại ở đó. Phần anh phải đưa anh công an về nhà, mang nốt số đồ còn cất giấu đến, chờ kiểm tra. Lại một đám đông bu lại trước nhà anh. Anh thấy xấu hổ và nghẹn tức. Hôm ấy, vợ chồng anh mất toi bữa chợ, cô vợ một buổi ở công an để khai ra những lần mua bán của gian. Cô đã bị công an cảnh cáo nghiêm khắc, phải trả lại đồ mất cắp, và vì thế mất tiêu số tiền hơn nghìn đồng đã bỏ ra mua.

Vài ngày sau, giữa họ có một cuộc cãi nhau kịch liệt. Anh bảo cô bôi tro trát trấu vào mặt anh. Cô bảo việc cô làm cô chịu, không dính dự gì đến ai. Anh rít khẽ: "Cô là đồ buôn gian bán lận!". Cô chẳng chịu kém thua: "Còn anh là gì? Chỉ là đồ trí thức rởm, kẻ ăn bám vợ!..." Họ to tiếng với nhau, quát vào mặt nhau. Đứa con đứng khóc bên cạnh. Hàng xóm nhìn ngó vào. Và đến nước đó anh đành im tiếng. Trước đó anh đã qua một đêm dài trao đổi với cô, rằng thôi cách làm ăn này đi, thà chịu khổ chứ không thể để người ta chửi vào mặt thế này được.... Cô không chịu, nhất quyết giữ quan điểm của mình, thế là họ to tiếng với nhau.

Cô nghỉ vài ngày rồi tiếp tục những buổi chợ. Anh quyết định không dính dự gì nữa vào công việc của cô. Mấy ngày qua, anh đã thấm thía với cái sai của mình, với sự buông thả trong bấy lâu nay. Anh đã chiều cô ấy quá nhiều, hay nói đúng hơn, anh đã bị cô ấy lôi kéo quá xa. Phải dừng lại thôi, chắc cũng chưa muộn lắm đâu!

Anh âm thầm thực hiện ý định của mình. Anh tích cực đề nghị lãnh đạo Phòng Giáo dục cho anh nghỉ chức hiệu phó, lần này không phải với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, mà chính vì anh cảm thấy mình không còn đủ tư cách để đảm nhiệm chức vụ đó. Anh không được toại nguyện. Trưởng phòng khuyên bảo anh: Khi anh đã thấy được cái sai, tất nhiên anh sẽ có biện pháp sửa chữa sai lầm để sống cho tốt hơn. Anh đề nghị hiệu trưởng bố trí cho anh một chỗ trong khu tập thể, nhưng người ta cũng không đáp ứng nguyện vọng của anh. Thôi được, anh tiếp tục sống ở đây, đối diện với những khó khăn này, chiến đấu với nó trong từng phút giây một. Anh tin mình sẽ không ngã một lần thứ hai!

Hơn một năm sau, anh được chuyển về làm hiệu trưởng trường tôi. Nhờ thế chúng tôi có điều kiện thân nhau. Anh nói với tôi rằng anh mới chiến thắng có một nửa trong cuộc đấu tranh ấy. Phần còn lại, phải có thời gian và sự xa cách. Anh thấp giọng thầm thì: "Giữa mình và cô ấy có một khoảng cách rất lớn, mà đôi khi sự cách xa lại làm tụi mình xích lại gần hơn đấy anh ạ!"

*

Tiếng nói của ai đó vang lên:

- Anh làm gì mà ngồi thừ người ra như vậy?

Tôi giật mình trở về với hiện tại. Anh chị vẫn ngồi đó, bên nhau trong vẻ hạnh phúc, mãn nguyện với cuộc sống sang giàu. Bỗng dưng tôi muốn hỏi một điều:

- Thành quả mà anh chị có được hôm nay là nhờ công của ai thế?

- Thì nhờ vào sự cố gắng của cả hai vợ chồng đấy thôi!

- Tôi nhớ năm xưa, thời bao cấp, chính chị đã đi những bước đầu tiên vào nền kinh tế thị trường rồi!

Chị cười thật tươi:

- Kinh tế thị trường gì! Hồi đó túng quá thì làm liều thôi. Sau thành quen, thấy kiếm ăn được, tôi xin rời biên chế, mạnh dạn ra ngoài làm ăn buôn bán, và cũng kiếm được!

Tôi cười, hỏi nhỏ anh:

- Cái khoảng cách ngày xưa anh nói, hình như đã xoá rồi phải không?

Anh nhìn tôi trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu vẫn không nói gì. Chị nhìn tôi có vẻ nghi ngờ, rồi lại nhìn anh cười mỉm, cái cười thật rạng rỡ như thầm tự hào về vai trò của mình, và của cả chồng mình:

- Anh vừa nói gì đấy? Làm gì có khoảng cách! Mình là dân, anh ấy là quan. Ở thời này giữa quan và dân phải có sự thống nhất, hỗ trợ cho nhau chứ! Nhất là trong phạm vi gia đình, muốn làm nên việc thì vợ chồng phải đồng tâm hiệp lực. Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn mà!

Nói xong chị cười khanh khách, tiếng cười thật thoải mái vang xa!


Nguyễn Quang Quân

 

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất