Nguồn: Đặc San Cường Để & Nữ Trung Học Qui Nhơn 2007

Những ngày tháng nặng nề sau ngày đổi đời rồi cũng trôi qua trong khó nhọc, vất vả.

Sau khi thoát khỏi trận chiến ở Ban Mê Thuột, chồng tôi bị bắt đi tù cải tạo tại Cung Sơn (Phú Yên), phần tôi và năm con còn nhỏ dại dắt dìu nhau về được Saigon, tá túc bên mẹ già, hàng ngày theo Bà Cụ hàng xóm ra chợ trời tập mua đi bán lại những thuốc Tây, vật dụng, quần áo …  Tôi như người mộng du, sống âm thầm như cái bóng dưới sự hướng dẫn của mẹ tôi và Bà Cụ hàng xóm tốt bụng.

Mỗi ba tháng một lần, bồng bế con cái đi thăm chồng.  Rất nhiều lần tôi phải tự nhắc nhở: mình không được gục ngã, ráng sống vì chồng, vì con, đứa lớn nhất mới 7 tuổi.  Sức lực tôi cạn dần, mới ngoài ba mươi mà tưởng như gần năm mươi.

Đoạn đường thăm nuôi khốn khổ như con đường Chúa vác Thánh Giá lên đồi Gongotha.  Ngày ấy, xe lửa mỗi ngày chỉ có một chuyến tàu chợ Saigon - Nha Trang, Nha Trang - Tuy Hòa.  Mua được một vé xe lửa cũng phải có giấy đi đường, xếp hàng bất cứ giờ giấc nào.  Có nhiều hôm mua vé từ Saigon không được, tôi và con bé nhỏ nhất, mới một tuổi, đón xe vận tải chở heo, gà ra miền Trung.  Ngồi chung với lũ heo, gà hôi thối gần chết ngạt, đến ga Mường Mán lại phải xếp hàng từ một, hai giờ sáng để mua vé ra Nha Trang.  Đến được trại tù Cung Sơn, cũng phải lên xe lửa xuống xe đò vài bận.  Xe đò từ Tuy Hòa đến Cung Sơn trên con đường đất đỏ gồ ghề, một bên là vách núi, một bên là đập Đoàng Cam, rơi vào bên nào cũng cầm chắc cái chết.  Xuống xe đò lại phải cuốc bộ dăm cây số đường rừng, nghe chim kêu vượn hú, lê lết tấm thân rã rời, mới đến được Trại Tù 53 (từ năm 1979 trở đi, trại dời về A 30, đỡ khổ hơn vì đường sá dễ đi).

Như trên tôi đã nói, thời điểm năm 1977 chưa có tàu suốt, chỉ có tàu chợ từng đoạn ngắn, muốn đi Đà Nẵng, cũng phải đi nhiều đoạn.  Đi xe đò phải có giấy công nhân viên nhà nước, hạng người thấp cổ bé miệng, phó thường dân, vợ tù cải tạo như tôi đây "còn khuya" mới mua được vé xe đò.  Vả lại đi xe đò cũng kinh hãi lắm, xe loại cũ, chật ních người, đồ đạc trên mui xe chồng chất cao nghếu, nhìn những chiếc xe đò leo lên hay tuột dốc đèo Cả mới thấy cái liều lĩnh của người dân mình không sợ chết.

Sau chuyến thăm nuôi vào tháng 8 năm 1977, tôi cùng Bé Thảo (em chồng tôi chừng mười lăm tuổi) lên tàu chợ Tuy Hòa - Diêu Trì, dự tính ra Đà Nẵng để nhận một số thuốc Tây do chị Ba tôi gửi cho Mẹ tôi.  Thời đó thuốc Tây quá khan  hiếm, tôi đánh liều một chuyến đi xa để có thuốc cho Mẹ trị bệnh.  Lúc ấy, Diêu Trì không có phòng trọ, chỉ mướn ghế bố ngủ qua đêm là sang nhất.  Nhờ người hướng dẫn, tôi mướn ghế bố có mùng hẳn hoi, hai chị em qua đêm yên lành, năm giờ sáng hôm sau xếp hàng mua vé đi Đà Nẵng.

Chị Ba cho nhiều thuốc quá nên phải bán bớt, chỉ dành lại số thuốc cần thiết cho Mẹ tôi thôi.  Tôi mua năm chỉ vàng và tiền mặt còn lại gần một trăm ngàn được gói kỹ và cất dưới đáy túi xách.  Lần đầu tiên đi xa lại mang một số tiền, vàng, vào thời đó có thể gọi là khá lớn, đủ để mất mạng vì cướp bóc, hoặc cũng có thể bị Công An xét tịch thu vì tội buôn thuốc Tây và ngồi tù bất ngờ.  Tôi không dám nhét vào bụng như các bà đi buôn thường làm.  Tôi dự tính khi về lại ga Diêu Trì, trời còn sớm tôi sẽ về Qui Nhơn thăm bà con và thành phố thân yêu, nơi "chôn nhau cắt rốn" của tôi mà gần hai mươi năm trời tôi xa cách.  Dự tính đã làm cho tôi nôn nao, nhưng cuối cùng Trời không chiều lòng người, tàu đến ga Quảng Ngãi bị dừng lại hai tiếng đồng hồ vì cán chết người.

Trời đã ngã về chiều, tàu chật như nêm, hai chị em tôi lạc lõng giữa một đám người hỗn độn, ngổn ngang gánh gồng, khó khăn lắm mới có được chỗ ngồi.  Một cô phục vụ trên tàu mang rổ bánh mì thịt đi bán cho hành khách, trông cô ta người đàng hoàng, dáng vẻ như một cô giáo Tiểu Học hơn là người lao động.  Đến chỗ tôi cô nói nhỏ:"Chị cẩn thận nghen!  Có một tụi ăn cướp trên tàu, em nghe chúng bàn tán về chị và theo chị từ ga Đà Nẵng".  Tự nhiên tôi nhìn dớn giác. Cô vội trấn an: "Chị bình tĩnh đi". Tôi mua vài ổ bánh mì thịt đề phòng đến ga Diêu Trì tối quá cũng có đồ ăn cho Bé Thảo, nhìn cô phục vụ lấy thịt bỏ thêm vào các ổ bánh bán cho tôi, tôi cảm động, cố gắng nở nụ cười cảm ơn cô; dù sao nơi xa lạ vẫn có người tử tế với mình, với một chút tình người. Từ đó đến ga Diêu Trì, trời càng tối tôi càng đề cao cảnh giác, một bóng dáng đàn ông đến gần cũng làm tôi giật mình lo sợ. Mọi dự định đi Qui Nhơn đành phải bỏ. Sau khi về chỗ trọ cũ mướn ghế bố như lần trước, tôi thất vọng vì không còn một chỗ nào, bà chủ trọ đành chỉ cho tôi thuê chiếc chiếu trải trên sân ga ngồi đỡ qua đêm, nhìn qua sân ga tối mờ mờ, lác đác vài ngọn đèn hột vịt ở các hàng quán. Chị cho thuê chiếu nhìn tôi thương hại: "Cô đi thăm nuôi ở Đà Nẵng hả?"   Tôi gật đầu đại. Chị nói tiếp: "Thôi, cô chịu khó ngồi đó vài tiếng đồng hồ, để tui lựa chiếu mới trải trước cổng đồn Công An có đèn sáng cho cô nghen". Tôi cảm động nhìn người đàn bà nhỏ thó cỡ ngoài bốn mươi, mặt mũi hiền lành chơn chất. Tiền thuê chiếu năm trăm đồng, tôi đưa tặng thêm hai trăm, chị không lấy, nói nhỏ: "Cô nhớ đừng ngủ mê, có gì la lên cho Công An tới giúp". Cảm ơn chị một lần nữa, tôi và Bé Thảo ngồi xuống chiếu trải trước cổng đồn Công An chừng hơn chục mét, ánh đèn "mạng sống" từ trong hắt ra một vùng nhỏ cũng đủ để nhìn rõ mặt người. Tôi hơi yên tâm một chút. Bé Thảo nằm kê đầu lên đùi tôi, mệt mỏi đi vào giấc ngủ.

Tôi nhìn một vòng sân ga, chung quanh chỗ tôi có vài chiếc chiếu trống. Tôi thầm thì cầu xin Chúa và Mẹ Maria che chở chị em tôi bình an, tôi cũng cầu nguyện với linh hồn Bố tôi, người đã từng làm việc trong bịnh viện Qui Nhơn, giúp đỡ những người bệnh tật đau yếu khắp các vùng quê tỉnh Bình Định, xin Bố phù hộ cho chúng tôi được tai qua nạn khỏi.

Bỗng dưng một gã thanh niên vạm vỡ, dữ tợn, đến nằm dài ở chiếc chiếu bên cạnh, trở ngược đầu với em tôi, mùi mồ hôi chua loét từ người gã thoang thoảng làm tôi lợm giọng. Tôi khó chịu quá, chưa biết tính cách nào thì đã nghe gã ca cải lương ong ỏng như giữa chỗ không người. Tôi muốn dời qua chỗ khác, nhưng kỳ lạ quá, các chỗ xung quanh tôi mới đó đã có người nằm. Gã thanh niên ngưng ca cải lương thì bắt đầu ngáy, ban đầu còn nhỏ sau to dần như sấm dông. Tôi đành ngồi chịu trận, chiếc xách tay để giữa em Thảo và tôi, để chắc ăn, tôi quàng tay ôm Thảo và túi xách vào lòng.

Đồng hồ tay chỉ 11 giờ khuya, không có tàu đến nên sân ga im vắng, gã thanh niên nằm quay lưng lại và vẫn nằm ngược đầu với Bé Thảo. Tôi suy nghĩ mông lung về hoàn cảnh ngặt nghèo này, suốt đời chưa bao giờ phải lang thang đầu đường xó chợ, ngủ ở "khách sạn ngàn sao" như đêm nay.

Để chống lại cơn buồn ngủ, tôi nhớ đến người chồng thân thương đang trong chốn lao tù, lần thăm nuôi này thấy anh gầy ốm đến xót xa, không chuyện trò riêng tư được vì mỗi người ngồi một bên chiếc bàn rộng đến hai mét, phải nói to lên, ai nói chuyện nhỏ tiếng, tụi cán bộ quản giáo sẽ đứng ngay sau lưng để nghe mình nói chuyện gì. Chỉ một câu "Em khỏe không?", "Anh khỏe không?" chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong mười lăm phút thăm nuôi. Tôi lại nghĩ đến Mẹ già phải chăm sóc năm đứa con nhỏ dại của tôi, nếu tôi có bề gì thì ai nuôi Mẹ, nuôi con. Nước mắt giọt ngắn giọt dài, tôi lại tiếp tục cầu xin ơn Trên phù hộ chị em tôi bình an.

Quá mệt mỏi, tôi gập người lại, gục đầu vào chiếc túi xách, tay vẫn ôm Bé Thảo. Tôi thiếp đi không biết bao lâu, tự dưng tôi giật mình bừng tỉnh khi có cảm giác một con vật bò nhẹ ở bụng, tôi nghĩ thầm ở sân ga có con chuột to quá, con chuột bò qua túi xách, ngưng lại, rồi lại bò về bụng tôi. Chợt nhớ đến gã thanh niên, tôi dồn hết sức ghì mạnh vật ở dưới bụng.  À, thì ra bàn tay gã thanh niên, tôi không buông tay gã vì không biết mình đã bị mất mát gì chưa?

Tôi quát lên: "Mày có ý đồ gì mà cho tay qua người tao như vậy?"

Gã cũng dữ tợn: "Chị này kỳ quá, tôi ngủ quên!"

Tôi chợt nhận ra gã không còn nằm ngược chiều như trước mà lại nằm song song với em tôi từ hồi nào. Hốt hoảng tôi kêu to: "Bớ người ta! Ăn cướp! ..."  Tôi la vài lần nhưng chẳng thấy ai tới. Tôi vẫn nắm chặt bàn tay gã. Có lẽ hắn không ngờ tôi phản ứng mạnh đến thế nên nạt tôi: "Chị xem đã mất gì trong túi xách chưa mà kêu ồn vậy".  Tôi hét to: "Tao chẳng có gì trong xách cả, nhưng mày để tay trên bụng tao là mày có ý đồ xấu rồi!"  Lúc ấy có người từ trong đồn Công An đi ra, họ chẳng nói chẳng hỏi tôi câu nào, nắm tay gã thanh niên dắt vào đồn. Tôi run rẩy sờ nhẹ vào túi xách, thấy đồ đạc của mình còn nguyên. Còn Bé Thảo ôm lấy tôi sợ hãi, vài bà chạy đến hỏi han, tôi kể sơ cho họ nghe, mọi người an ủi và dặn tôi đừng ngủ mê.

Mười lăm phút sau, gã thanh niên từ trong đồn đi ra, gã không về lại chỗ cũ mà đi về phía một đám người khác, to nhỏ một hồi rồi tản ra không thấy bóng dáng chúng đâu nữa.

Bất chợt, người đàn bà cho thuê chiếu chạy đến cuốn vài chiếc chiếu gần chỗ tôi và nói nhỏ: "Mau theo tui ngay! Có tàu bộ đội sắp chạy vào Nam, tui nghe mấy thằng ăn cướp bàn nhau sẽ làm thịt chi em cô trước khi trời sáng!".

Tôi hốt hoảng: "Bây giờ làm sao hả chị?".

"Tui sẽ dẫn cô ra tàu ngay"

Không kịp đắn đo suy nghĩ, tôi nắm tay Bé Thảo chạy theo người đàn bà, chun qua lỗ hổng của hàng rào nhà ga, hai chị em tôi chạy bừa, bất kể gai gốc. Một  đoàn tàu không dài lắm đang xình xịch chạy chậm. Người đàn bà đẩy hai chị em tôi lên toa cuối cùng, chị nói đứt quảng: "Lên mau đi!...Tụi nó bắt gặp... giết chết tui!"

Chúng tôi vừa đứng trên sàn tàu thì cùng lúc tàu chuyển tốc độ nhanh, tôi quay lại cảm ơn người đàn bà ân nhân cứu mạng, nhưng chị không còn đứng đó nữa.

Bàng hoàng ngồi xuống ghế, chị em tôi ôm nhau và cùng khóc, nước mắt tôi chảy không ngừng. Cầu xin cho ân nhân được bình an, cảm tạ Thượng Đế đã cho người đàn bà ấy đến cứu giúp tôi. Tôi tin chắc như thế!

Một tiếng nói to: "Hai chị em kia, trả tiền vé!".  Một tên bộ dội, mặt mũi chẳng hiền lành gì, nhìn đăm đăm vào mặt tôi đang ràn rụa nước mắt.  Tôi vội móc túi trả tiền vé như tự xác nhận mình đã thoát nạn.

Đoàn tàu vun vút chạy vào đêm đen...

Tôn Nữ Bảo Khanh
(Dallas - TX)