Mùa xuân 1987, trong một chuyến công tác, mình được tới Cù lao Xanh và ở lại đêm trên đảo.

Đó là một đêm không trăng và đầy sao.

Từ tháp đèn biển nhìn xa khơi, không gian trước mặt tuyền một màu đen, không phân biệt được đâu là trời là nước. Chỉ có ánh điện trên các con thuyền bắt cá của ngư dân trên đảo là chong sáng thâu đêm. Ánh điện yếu ớt chỉ đủ để bảo rằng nó đang có mặt trong đêm đen; trông như những viên ngọc trai đính trên tấm thảm nhung huyền phẳng phiu của biển cả.

Nếu bạn nhìn mê mãi không gian kỳ ảo này và để lòng trống trải, thì thế nào cũng rơi vào một ảo giác lạ thường: dường như đang trôi bồng bềnh trong một không gian vắng lặng, bao vây bởi muôn vàn vì sao.

Lúc ấy mình thiếp đi, rơi vào một giấc mơ lạ…

Khi tỉnh giấc thì đằng đông đã tím thẫm. Ánh điện trên thuyền đã tắt. Trái ngược với bóng tối ở đầu hôm, ánh triêu dương làm những chiếc thuyền câu đổ bóng xuống mặt biển như những con còng non chỏng chơ trên đĩa bạc.

Giấc mơ chưa trọn ở đêm trước còn đọng lại trong tâm trí để thành câu chuyện sau đây kể lại cho các bạn.

Tuy nhiên, trước khi vào chuyện, mình xin giải thích đôi điều.

Thật ra đây không hẳn là một câu chuyện. Nó được xây nên từ chuyến lữ hành lần đầu tiên trong đời mình tới Cù lao Xanh, nên có dáng vẻ một loại ký sự. Cái hư ảo đã tựa vào thực tại thơ mộng của Đảo Xanh năm nào.

Ngày 31 tháng Tám năm nay, mình trở lại nơi này, mà lòng buồn quay quắt. Vì Cù lao Xanh dường như cũng già yếu theo tháng năm.

Giống như 22 năm trước, dân bây giờ vẫn nghèo, thiếu ăn. Trẻ em thì còi đẹt (các cháu bé PTCS mà vóc dáng như học sinh tiểu học)


Dân số không tăng: 2.200 nhân khẩu, 486 hộ dân cư. Thanh niên bỏ đảo đi làm ăn xa hết, rồi chẳng có ý định trở về. Chỉ còn lại trẻ em, người già.

Cảnh quan giờ trở nên xấu. Mấy thửa ruộng xanh mởn xưa đã biến mất từ lâu, thay vào bằng mấy hố rác hôi nồng.
Con đường đất thơ mộng, ven bờ có nhiều cây chà là ta, chim chim, dú dẻ  nay là con đường bê tông thô cứng dài hun hút. Lộ rõ vết phân bò, phân dê.

Và bãi Nam, năm 2002, người ta xây cầu cảng và bờ kè chắn sóng phủ gần hết. Ôi bãi Nam! Nay còn đâu bờ cát trắng, nước trong xanh với rạn san hô muôn màu.

Bây giờ người ta khoát áo cho Cù lao Xanh toàn đường xi măng, nhà bê tông một cách hời hợt biếng nhát.

Người ta thích hiện đại cẩu thả để đánh mất nét hoang sơ quý giá của đảo.


Người ta viện dẫn nhiều lý do để bênh vực. Nhưng cái được thì chưa thấy, cái mất giờ đã nhiều.

Còn chuyện tâm hồn. Hỏi thăm mấy cụ già, xưa ngâm nga bài “Vè Cát Lái” thì không còn ai biết các cụ là ai. Rõ rồi, bài vè quý giá xưa như một hải đồ dân gian, cũng đã đi vào nghĩa trang của ký ức.

Mình trở lại Cù lao Xanh mà cô đơn như kẻ làm ăn xa thất bại, quay về quê hương bản quán.

Buồn và mệt, chợp mắt một lát thì nằm mơ. Giống giấc mơ của hơn 20 năm về trước, nhưng hình như là phần kết của giấc mơ xưa…


1.

Vào những ngày nắng ấm cuối năm, khi gió bấc dịu đi, còn đọng lại chút rét của mùa đông chưa qua hết thì bến Hàm Tử càng đông khách. Khách từ ngoài đảo vào đất liền đi chợ mua đồ dùng cần thiết cho gia đình, để bán những hải sản có được ở đảo. Cũng có khách từ đất liền ra đảo tham quan hay về đảo thăm nhà sau một năm đi làm ăn xa.
Trên chiếc tàu địa phương NC-02, ngoài những khuôn mặt quen thuộc của dân đảo còn có Xuân và các học trò của cô. Bác lái chính thu xếp cho thầy trò Xuân chỗ ngồi tốt cho những khách không thường ra đảo.

Tàu lui dần với tiếng máy trầm chắc, làn khói xám phun lên xiên vào bờ làm mờ nhạt những món hàng chất ở bến và những hình người lao xao trên cầu tàu. Cảnh vật trong bờ mỗi lúc một mờ dần, san sát vào nhau.

Dù sao vẫn là một chuyến ra đi, nhưng ở Xuân đến đảo lần này lại là về thăm. Về với những chuyện cũ mà thời gian, công việc và trí nhớ đã phủ một lớp bụi dày lên nó.

Tàu nhanh dần ven theo cảng. Gió lộng hơn khiến mũi tàu càng dập dềnh so với dãy núi phía trước, cùng mấy con tàu neo ở bến. Chẳng mấy chốc đã tới cửa biển. Tàu dừng lại dăm phút trước trạm công an biên phòng để làm thủ tục đi khơi.

Chếch lên phía trên ở đằng đông, tượng đài Trần Hưng Đạo ngược sáng mặt trời, trở nên đen thẩm, tỏa sáng đường nét thô kệch phủ lấy đôi mắt nhìn xuống trông nặng nề. Khung cảnh lạnh lùng ấy, gợi nhớ một chuyện gì xưa cũ lắm.

Xuân khẽ rùng mình…

Sáng hôm đó gió bấc không săn lắm, vậy mà mới ra ngoài cửa một chút sóng đã nhồi rất dữ. Thầy trò Xuân bắt đầu ngấm mệt. Phía trước mặt màu bọt sóng trắng xoá lẫn màu xanh chì của nước biển hoà nhập vào nhau, tràn ập liên tiếp, mạnh mẽ như muốn phủ lấy con tàu.

Trong giây lát Xuân hiểu mình rõ hơn, mong manh, yếu đuối, cùng lúc kỷ niệm xưa sắc nét dần, mặc cho mệt nhọc tràn lên trong cơ thể. Xuân day lại tựa vào cô học trò bên cạnh, nhìn về đằng sau tàu; dãi cát vàng Nhơn Hải lún dần trong nước, giờ loáng thoáng như sợi len đứt đoạn ở cuối tầm mắt, còn tượng đài thì mờ nhạt trong màu lam của triền núi xa xa. Xuân nhắm mắt cố xoa dịu cơn buồn nôn bị dồn nén. Vẳng bên tai có tiếng học trò :

- Uống thuốc say sóng, cô nhé !

Xuân lắc đầu.



2.

Sau hai năm nghiên cứu ngành giun đốt, rồi hoàn thành luận văn về hệ tiêu hoá của lớp giun Alfa ở vùng đầm lầy Nam Bộ. Xuân về làm việc tại Phân viện II - Hải dương học.

Thấm thoát đã bảy năm…

Ngày lại qua đi, thời gian như luồng gió ngược chiều, còn Xuân với sức chịu đựng phi thường đã đối đầu với nó. Xuân đã không chịu hàng với cảnh ngộ mình gặp phải, cô đẩy lùi phía sau từng chút thời gian mà không suy gẫm xem xét.

Hạnh phúc ngắn ngũi với người chồng yêu dấu đã chết vì một căn bệnh hiểm nghèo. Nuôi dạy cháu Thanh, hình ảnh duy nhất còn lại của chồng Xuân, anh mất đi khi cháu chưa ra đời.

Công việc khoa học; phát triển đề tài đã nghiên cứu về lớp giun Alfa. Công tác lãnh đạo khoa tại Viện. Giảng bài cho sinh viên trường Hải Sản làm Xuân không còn nghĩ đến hạnh phúc riêng tư.

Tất nhiên hôm nào đó bạn thử làm một sinh viên đến nghe cô giáo Xuân 32 tuổi giảng bài, bạn sẽ hiểu Xuân nhiều hơn. Mái tóc buông dài tự nhiên hơi quá vai, áo sơ mi xanh nhạt ngắn tay, chiếc quần tây màu xám và nụ cười tươi tắn hồn nhiên làm Xuân trẻ hơn so với tuổi. Nhưng đôi mắt to đen trông xuống thoáng buồn, vầng trán dô và cánh mũi hơi thô lại nói lên một điều khác, đó là một phụ nữ đầy cá tính, giàu tự ái với một niềm riêng sâu kín. Có lẽ thế, vì âm thanh vang lên từ lời giảng của Xuân chậm rãi, cương quyết làm sao! Cả hai: nụ cười trẻ trung, dáng người khắc khổ dường như thể thiện sức chịu đựng bền bỉ của tinh thần lẫn tâm hồn, giờ đây hoàn toàn thanh thản của cô.

Thời gian vẫn rơi đều vào dĩ vãng.

Xuân cứ đi tới trong từng bước đi, trong dòng suy nghĩ. Xuân làm thế có thật lòng mình không. Hiện tại, những lúc nghỉ ngơi, đi dạo cùng con gái trên bờ biển, Xuân vẫn sa vào trạng thái mơ màng của nhà nghiên cứu, tìm cách bác lại trực giác trước đó của mình về lớp giun Alfa ở Hòn Tre mà cô từng băn khoăn về sự phân hoá đất khi giun sinh sản trên đó.

Thế rồi sự tình cờ chợt đến.

Một hôm trong bài báo “Động vật thân mềm ở vùng biển Đông Á”, giáo sư H.L.Morgan có dẫn một ví dụ về sự làm giàu đất của giun Alfa trên đảo Poulo Gambir. Vài giây bỡ ngỡ, Xuân nhẫm đọc từ này lần nữa để xác định vị trí của đảo trên bản đồ, 13°37’N, 108°21’E: Đảo Xanh ... âm thanh mơ hồ vừa lạ vừa quen như ngỡ ngàng nhận ra người thân cũ.

Bên ngoài gió rét từng hồi, tạt mưa vào khung cửa, Xuân kéo vội vạt áo len. Hình dung ra ngọn đèn biển từ Đảo Xanh mà đêm nào năm xưa, bên anh Xuân biết được nhịp tối sáng khác thường của nó và cũng từ đó trong Xuân, anh đã hoá thân thành ngọn đèn ở xa khơi vĩnh viễn. Sao thế này nhỉ? Chẳng phải mình đã quên anh hẳn rồi sao?

Quay về phòng tìm lại hộp bưu ảnh, tặng vật duy nhất của anh mà Xuân còn giữ được. Những cánh thiệp Xuân, thiệp ngày lễ, mấy post card tranh phiên bản thu nhỏ, tất cả giờ đã ngã màu. Nét chữ, mãnh dẻ của anh đã nhạt đi màu thời gian. Nhưng lời yêu thương sao nồng thắm thế kia. Và đây, thẻ học sinh hồi nhỏ của anh, cậu bé lớp 9 có đôi mắt con gái, tóc húi ngắn kiểu học sinh trường nam đã ngã vàng, bên cạnh là tên, ngày tháng, năm sinh của anh (chưa kịp ghi ngày mất). Anh chết vì một tai nạn ở đảo, mà mãi sau này Xuân mới biết. Mân mê mẫu quế đã hết vị nồng cay nằm ở đáy hộp, bất giác nước mắt cô lăn dài trên má, vậy mà lúc anh ra đi hai người đang giận nhau. Xuân ngờ rằng anh trở ra Huế. Vắng tin. Đêm cuối cùng Xuân còn nhớ rõ đôi mắt lạnh lùng, lặng lẽ của anh, còn ngoài khơi đèn biển cứ âm thầm tối sáng.

Một năm sau tình cờ hay rằng anh mất ở đảo, bất ngờ quá. Đau đớn và tuyệt vọng. Một năm sau nữa Xuân lập gia đình với Nam, một bạn học cùng lớp.

12 năm rồi chưa một lần Xuân về đảo thăm anh.



3.

Nắng đổ dồn xuống con tàu nhỏ bé. Không như khi nãy, giờ đây mọi người trên tàu mệt mỏi, lặng lẽ như thiếp ngủ, chỉ có tiếng máy tàu nổ đều và sóng biển từng đợt đập nhẹ vào mạn tàu.

Gió đã bớt nhưng con tàu vẫn trôi chậm trên nước xanh thẫm màu đến dễ sợ, màu xanh ấy gây nên cảm giác nước biển đặc sánh hơn ban nãy, loang loáng phản chiếu ánh nắng như cố trì hoãn con tàu.

Xuân chống tay lên thành tàu đưa mắt nhìn xung quanh. Đất liền đã xa, chỉ thấy rõ tháp chuông nhà thờ Chánh tòa, một biểu tượng cho chiều cao của thành phố. Khu đại học vươn một màu xanh mờ của hàng dương dày kín, ở đó còn dư âm một thời học tập miệt mài của Xuân, ở đó còn xao động trong Xuân những lúc hẹn hò chờ đợi.

Tàu đã vượt qua Hòn Đất màu đỏ khô cằn đơn độc. Gió bỗng lặng đi, mặt biển uốn cong đường sin hiền hoà, làm mấy chú cá chuồn non óng ánh tựa như những con cánh cam được dịp vui vẻ phóng vút thật xa rồi đâm sâu vào nước từng vệt dài lấp lánh.

Đảo Xanh rõ dần, nhô cao hình gấp khúc trên nền mây trắng đằng xa. Xuân hồi hộp chờ.

Tàu xuôi về phía trái nửa vòng quanh đảo để tiến vào bãi Nam. Núi đá màu đất cao sừng sững loang lỗ vết xói mòn do sóng biển. Có chỗ không biết tự bao giờ vách đá đỗ nhào như tượng người khổng lồ gãy gục, sấp mình xuống mặt nước, sóng biển liên tiếp đỗ tràn lên nó lôi theo mấy chú còng liều lĩnh.

Sát ghềnh, nước càng gầm thét. Vài ngọn sóng vươn cao, cong mình đập xuống triền đá nhám thô đầy vết hàu, làm hoảng loạn đàn én đá đang túa lên như những mẩu tro.

Hợp tấu khúc bằng hình ảnh có từ hàng triệu năm ấy mãi mãi tái hồi và nay đã nhen nhóm trong tâm hồn Xuân phút giây choáng ngợp khi đứng trước cái hùng vĩ và mạnh mẽ của nó.

Nước chảy xiết; con tàu lao nhanh. Thay cho cảnh hoang vu trước đó, qua khỏi doi đá chắn ngang, bãi Nam hiện ra đầy sức sống: những mái nhà ngói đỏ chen chúc dưới bóng dừa xanh, mấy tấm lưới còn ướt, phơi dăng hàng óng ả trên cát nóng. Từ xa, trên lưng chừng núi đã thấy đèn biển của đảo xanh màu trắng khoác một vòng sơn đen qui ước. Bên cạnh là toà nhà hai tầng sơn trắng náu mình dưới tàn cây cổ thụ im lìm trong nắng trưa. Nhìn màu trắng thanh thoát của tháp đèn, Xuân thấy lòng đau nhói. Phẳng lặng từ lâu rồi, có lẽ anh ấy không cần tới sự về thăm trễ tràng này của Xuân nữa. Tay cô run run vịn cái thúng chai úp sấp ở cuối tàu, rồi chừng không cầm được cô quay mặt ra khơi khóc nức nở.


4.

Sau buổi họp mặt với chính quyền địa phương để báo cáo toàn bộ công việc nghiên cứu sinh học của đoàn trong một thời gian ngắn tại đảo. Xuân vội tìm gặp ông chủ tịch xã.

- Xin phép chú, cháu có một việc riêng muốn hỏi thăm, nhờ chú giúp cho.

Im lặng một lát, trông xa biển xanh nhấp nhô trong khung cửa sổ nhỏ như một khung tranh ở phía sau mái tóc hoa râm của ông chủ tịch. Giọng Xuân rụt rè buồn bã:

- Cháu có người anh họ. Cách đây đã lâu, anh chết vì một tai nạn, nghe nói khi đang xem xét các di tích khai quật được trong một mộ táng ở đảo. Anh là Trần Hùng. Chú có biết tin về anh không ?

Hình như đang quan tâm tới điều khác nên ông Chủ tịch không trả lời trực tiếp câu hỏi của Xuân.

- Thế cô có họ hàng với anh Hùng ? Sau tai nạn chúng tôi có ý đón chờ người thân tới viếng anh nhưng không thấy ai, nay cô là người đầu tiên. Cô qua đây, những gì mà anh Hùng làm được cho đảo chúng tôi còn lưu lại đầy đủ. Chúng tôi phải có trách nhiệm với anh.

Ông Chủ tịch đưa Xuân đến nhà truyền thống của đảo ở không xa nơi làm việc của ông. Từ Uỷ ban nhìn sang có thể thấy toà nhà màu trắng ngà ngói đỏ, là một công trình kiến trúc nhỏ dưới chân đồi Hanh Châu, xinh xắn như hạt ngọc trai gắn trên thảm cỏ xanh. Lại gần nó như bức bình phong ba mặt lồi, tựa vào đồi núi nhìn ra biển và nhìn xuống cánh đồng khô cằn phía dưới.

Chiều trôi nhanh về đằng tây, toà nhà bị chia đôi bởi ánh sáng của không gian và bóng tối của của ngọn đồi in lên nó gây lên sự tương phản kỳ lạ. Xuân đăm đăm nhìn về phía trước, lặng lẽ đi sau ông Chủ tịch. Ông tiếp tục câu chuyện để xua đi sự im lặng nặng nề.

- Chúng tôi có thư và điện ra trường đại học nơi anh công tác. Trường cùng Viện khảo cổ cử một đoàn vào viếng anh và muốn nhận các di tích khảo cổ ở đảo. Chúng tôi đồng ý nhượng lại và yêu cầu Viện phục chế tất cả các hiện vật rồi xây dựng nhà truyền thống như cô đã thấy. Từ dạo đó tới nay có vài lần Viện và Trường điện vào để tưởng nhớ ngày mất của anh nhưng những lần sau đó không thấy điện vào nữa. Thế là Trần Hùng mãi mãi là người con của đảo.

- Mộ của anh ở đâu hở chú ?

- Ở nghĩa trang Hàng Dương, phía bên kia đồi. Chúng tôi sẽ đưa cô đi thăm.


5.

Từ sáng sớm, thầy trò Xuân đã lích kích nào xẻng cuốc, kính hiển vi, nào va li tài liệu và mẫu vật đi vào núi. Việc tìm kiếm giun Alfa vô cùng vất vả. Các lớp đất dưới đá, trong các khe nứt đều được xới lên cẩn thận, cho tác dụng với thuốc thử để tìm dấu hiệu phong hoá của lớp đá xung quanh do giun Alfa làm mủn nát. Từng con giun đủ loại, đủ màu sắc được giải phẫu, đường tiêu hoá được xem xét kỹ qua kính quang học và trong thuốc thử. Mấy trường hợp không thể xử lý được mẫu thì mang về Viện để nghiên cứu tiếp.

Đá vẫn cứng còn đất thì cằn cỗi. Những tia hy vọng có lẽ còn xa xôi lắm.

Ba ngày qua đi. Xuân động viên mấy cô cậu học trò cần mẫn của mình và cô cũng tìm cho mình niềm an ủi. Anh Hùng! Em tìm anh đây. Dấu vết nào anh đã dừng lại xới tìm di tích, dấu vết nào anh đã đi qua để suy gẫm riêng tư, có phải là dấu vết ngày nay em lại đến không? Xuân miên man tìm kiếm một loài giun hay là tìm kiếm lai lịch của một người...Có lẽ, Xuân đã nhập vào tình yêu khoa học trong mối tình đầu tiên của cô.

Chiều buông nhẹ xuống bên kia đồi, chiều dường như ngừng trôi vì bận gieo rắc ánh vàng cho vạn vật. Biển bây giờ không còn xanh nữa mà đã thấm màu vàng kim trong trẻo, làm cho cát và biển không đâu là ranh giới, từ xa chỉ thấy lô xô mấy lớp sóng bạc đầu. Không gian cũng không còn trong như vốn có mà lại vàng đi, làm cho hàng phi lao ở nghĩa trang như chìm trong màn sương mỏng mênh mông.

Xuân lững thững bước xuống đồi, nhìn về hàng cây mọc thoai thoải ở đằng xa, phía sau thấp thoáng mấy ngôi mộ trắng. Cô ngồi bên mộ anh, nhìn hồi lâu hàng chữ phai màu sơn khắc trên bia mộ, khẽ đặt tay lên đó nửa như muốn phủi cát bụi bám vào nửa như muốn truyền hơi ấm cho phiến đá lạnh lẽo kia. Cô thầm thì như đang nói chuyện cùng anh ...

Anh đến khi em còn thơ ngây, anh ra đi làm hồn em nặng trĩu. Sáu năm sao mà chóng vánh ... Em không kịp hiểu, không kịp nhận ra anh thì em mất anh mãi mãi.

Hồi ấy em gặp người thanh niên lạ bên giếng nước tìm hỏi nhà người thân sau bao năm xa cách , em đâu nghĩ đó là anh và như thế em vẫn hồn nhiên chơi nhảy dây trong sân nhà: -Mặc kệ họ!

Mấy năm sau, lại anh và em thường soi bóng mình trong giếng nước, thế là biết yêu. Điều ấy chỉ anh biết nhưng em thì chưa, cho đến khi vắng anh em mới hiểu đau khổ là gì .

Gió biển thổi vào mạnh hơn, hoàng hôn đã nhuộm tím ngọn đồi làm cho khu nghĩa trang trông lạnh lẽo. Xuân chậm rãi bước đi, bóng cô liêu xiêu tan dần trong bóng chiều đã tắt.



6.

Chiều lại đến. Khi ngôi nhà màu trắng đã nhuốm màu bồ quân và một nửa rơi vào bóng tối của đồi Hanh Châu, tạo nên hai mảng sáng tối rực rỡ, thì Xuân lại đến với nó. Ở đây là lẽ sống của Trần Hùng, còn bên kia đồi là nơi yên nghỉ của anh.

Trong toà nhà này, cả chuỗi dài lịch sử của đảo được anh góp phần dựng lại. Trong tủ kính là rìu, vòng trang sức thời đồ đá. Trên giá đỡ là tập ghi nguồn gốc của dân đảo. Trên tường là các bức vẽ và hình chụp các di tích. Tất cả đều mang dấu vết của anh. Còn đây nữa bản tường trình công việc xây dựng hải đăng đảo Xanh và bài hát ru về nỗi đắng cay mà dân đảo phải chịu để có hải đăng cho thực dân mà anh sưu tầm được...

Lòng thổn thức, Xuân bước đi trong tòa nhà im ắng, từ xa vọng lại tiếng ru của biển cả và rừng thông. Tất cả còn đây, mà anh thì đi vắng. Em đến thăm anh đây mà, xin nói cùng em về đảo đi anh . Không một tiếng vọng phản hồi, các di tích vẫn im lìm như hồi nào nó còn nằm trong đất. Xuân nhớ lại tâm tình năm xưa của anh về đảo.

... Đảo Xanh tựa như chiếc vỏ lạc bồng bềnh trên sóng nước. Mùa nồm gió hây hây lùa những gợn sóng lăn tăn lao xao bờ cát, mùa bấc gió gào thét triền đá làm sóng nước dâng cao. Từ đất liền trông xa đảo như người ốm co mình trong những cụm mây xám đục.

Người trong bờ gọi đảo là Cù Lao Xanh ngầm chỉ về một nơi xa xôi tù đày, nổi trôi giữa nước biếc. Dân đảo lại mong ước về đảo thân yêu một màu xanh cây trái ruộng lúa tốt tươi. Nhưng tự bao ngàn năm đảo vẫn là một khối núi đá khô cằn. Vài cụm lúa nối liền bãi Bắc với bãi Nam mới chỉ là một niềm an ủi. Còn nghề biển giã. Con cháu của đảo có người than thở : “Cơn cớ nào ông bà mình lại ra tận chốn này’’. Người già nhất đảo theo trí nhớ cũng kể được nguồn cơn nhưng gốc gác từ thời nào thì không chắc. Vết tích của người xưa còn thấy được là một ngôi chùa, một giếng nước và đây đó mấy cái mã Hời.

Đảo nghèo! Đảo không có màu xanh như mơ ước. Người của đảo muốn trở về với quê cha đất tổ nhưng biết đâu là nguồn cội mà về !

7.

Như vậy vai trò của giun Alfa ở đảo là không đáng kể. Cuộc khảo sát vào ngày thứ sáu tại thung lũng khu Trung cho thấy giun Alfa sinh sản rất ít, khả năng làm mềm đất yếu ớt và việc làm giàu chất đất cho đảo là không đáng quan tâm vì thực tế loài giun nào cũng có phần đóng góp nhỏ bé ấy cho con người. Thất vọng ! Lại nữa bài viết của Morgan càng làm cho các nhà sinh hoá tại đảo thất vọng hơn. Những lúc ấy Xuân thường nhớ về Trần Hùng. Như thế anh may mắn hơn em rồi đó! Anh yêu đảo (và cũng yêu em nữa chứ, phải không ?). Anh đã bày tỏ được tình yêu của mình cho đảo, đưa lại cho đảo những trang sử đầu tiên hoang vắng; mang về cho dân đảo một  cội nguồn quý báu. Còn em được gần anh nhưng không lưu lại đây một tặng vật nhỏ bé nào. Những ngày ngắn ngủi nơi đây, đảo cho em rất nhiều điều: phong cảnh, tình người. Cảnh thì đẹp và lòng người ấm áp. Em được nghe bài Vè Các Lái - truyện thơ phong cảnh về bờ biển từ bắc chí nam dài hàng trăm câu, do các cụ già nhất đảo tiếp sức nhau hò cho bọn em nghe. Những điệu múa chất phác hồn nhiên và nguyên sơ của đảo về đêm làm em nhớ anh. Có phải một đêm nào đó trăng vàng thanh cao buông lơi ngọc vàng xuống cửa sổ nhà em thì em được nghe một khúc nhạc tình của anh nhờ trăng gió gửi sang. Nhưng thôi, cái điều ân huệ của đảo là đảo giúp em nhớ anh, dù rằng hạnh phúc về kỷ niệm xưa cũng là bất hạnh cho em.


8.

Ngày thứ bảy. Tin vui đến với đoàn nghiên cứu. Có một loài giun lạ màu lửa thuộc lớp Polychacta sinh sôi nảy nở trong hang Tiên ở phía Bắc đảo.

Trưa hôm ấy đoàn nghỉ trưa ở hang Tiên, thì một học trò của Xuân nhận thấy có một khối đất khổng lồ choáng gần hết bề sâu của hang. Đất đen, tốt, không giống như các chất đất có trên mặt đảo. Giữa hai khe đá gần vòm hang, một hiện tượng kinh khủng: lúc nhúc những con giun màu đỏ. Vùng đất nơi ấy nhiệt độ cao hơn nơi khác từ 3 đến 4°C. Dân đảo có biết hiện tượng này không? Có biết, nhưng cho đó là chuyện bình thường.

Các khảo sát ban đầu cho mấy kết luận: giun có thân nhiệt ổn định 42°C, một điều kỳ lạ vì giun là loại máu lạnh mang thân nhiệt của môi trường. Đường tiêu hoá càng đáng kinh ngạc hơn, miệng có khả năng nghiền nát đá rắn như loại mối gặm nhấm gỗ cây. Ruột khi tiêu hoá tiết ra một hoạt chất tính axit cao, ngoài ra một số dấu hiệu khác như giun toả năng lượng ở vùng ruột thì đoàn chưa kết luận được. Và đây là kết luận sơ bộ về hiện trường: vòm hang, nơi có giun sinh sống bị khuyết hẵn các lớp đá, khối đất tụ ở nền hang không có ở bất cứ nơi nào trên đảo, vậy không thể do một ai mang đến, hơn nữa ở đảo người ta đã thấy hiện tượng này từ rất lâu, theo truyền miệng thì ít ra trên dưới trăm năm. Kết luận chỉ có loại giun lửa này mới có khả năng đó. Khó giải thích... sự thật là như thế. Lần này trực giác cho phép Xuân được vui và nhiều hơn nữa Xuân được hạnh phúc. Chắc chắn rằng giun sẽ có tên là Polychaet-H.

Đêm nay, đêm cuối cùng ở đảo. Xuân đã đến anh từ ban chiều và đã nói nhiều điều cùng anh. Em đã thực hiện được điều mơ ước của anh đem về màu xanh cho đảo. Em sẽ trở lại cùng với Polychaet-H thăm anh. Đêm nay em sẽ lên tháp đèn, nhìn tia sáng quay và đếm mười giây tia một, hai giây tia hai, mười giây tia ba ...như lần nào ở đất liền chúng mình cùng đếm tia đèn chớp nháy. Em sẽ nhìn về hàng dương mà ngày xưa chúng mình đã dạo chơi. Tiếc quá sao hôm ấy anh lại giận em nhỉ, chẳng lẽ em không được đi chơi cùng bạn em sao? Thôi mình đang vui, em sẽ không nhắc tới điều ấy nữa.

9.

Ông Chủ tịch, các vị khác ở Uỷ ban và những bạn mới quen tiễn thầy trò Xuân tận bến. Những ngày ngắn ngũi lại hoá thân quen, khi chia tay tưởng như mất đi những gì thân thiết.

Tàu vòng quanh đảo hai vòng để ngỏ lời tạm biệt. Lần cuối tàu dừng lại bên hòn Ông Già để chào ông, như truyền thống bao đời nay của đảo. Én bay lượn trên không, không rõ tiếng kêu ấy vui hay buồn nhưng hòn Ông Già chừng như đau khổ lắm (bao đời nay ông vẫn thế với dáng ngồi cô độc khâu mảnh lưới tả tơi)

Ai đó trên tàu buông lời nhắn nhủ:

- Tạm biệt chim én, mình sẽ trở lại.

Một lần nữa hạnh phúc trong Xuân lại là niềm day dứt. Anh yêu, em đã trở lại cùng anh.


KHỔNG XUÂN HIỀN